Hợp đồng hôn nhân
Kiếp Nhảy Dù - Thiên thần lạc lối
Trên
quê hương
Chuyện… trăm năm
The Boat - Life: The
Journey
Tuổi thơ - Hành tŕnh
t́m tự do
Chuyến đ̣ t́nh
Tiếng trống Mê Linh
T́nh cũ không rủ cũng đến
Tản mạn cuối tuần
Ốm vợ
Một
đời nỗi trôi
Một đời bị bẻ găy -
Một đời đi t́m tự do
Bên
anh... c̣n có em
Kư sự - Ngày trở về
Đời cứ như là mơ
Mối t́nh qua hai
thế hệ
Những điều đến
muộn màng
Lời nói cứu
người .. Lời nói giết người
Nửa đường gẫy cánh
Bẫy T́nh
Nửa vầng trăng
khuyết
T́nh yêu trong
thời loạn
Kỷ niệm chuyến đi
Những giờ phút khó
quên
Kỷ niệm dấu yêu
Thoại Sơn: Mối
t́nh đầu
Những giờ phút khó quên
Kỷ niệm dấu yêu
Thoại Sơn:
Mối t́nh đầu
Chuyện t́nh khó
quên
May mắn &
Hên xui trong đời lính chiến
Ba, bốn phát
13 người cuối cùng về
từ Tiền đồn 3&4 Kon-Tum
Passage to Freedom
Thuyền Đời - Đêm vẫn đen Audio
Đất nước tôi!
C̣n nhớ mùa xuân
Tết
Thuyền Đời - Cuộc đời Audio
Thuyền Đời -
Con thuyền Audio
Thuyền Đời - Xuân quê hương Audio
Ḍng sông quê hương - Ḍng Cửu Long
Ngày oan trái! -
Audio
Đất nước tôi -
Audio
Khi người tù trở về
Tiếng trống Mê Linh -
Audio
Chuyện cuối năm -
Audio
Màu áo cũ -
Audio
Mang theo quê hương
-
Audio
Trong
âm thầm c̣n nhớ ai! -
Audio
Sài G̣n là đây sao em!
- Audio
Chuyện trăm năm -
Trên quê hương
-
Audio
Chuyện
trăm năm - Một ngày -
Audio
Trăm đắng ngh́n cay -
Audio
Chiếc áo Bà Ba -
Audio
Giữa đồng xưa -
Audio
Áo trắng -
Audio
Gửi nơi cuối trời -
Audio
C̣n nhớ mùa xuân -
Audio
Từ một chuyến đ̣ -
Audio
Dêm thánh vô cùng
-
Audio
Khi mùa đông về -
Audio
Noel năm nào -
Audio
Khúc quân hành -
Audio
Cho ngàn sau -
Audio
Ngh́n trùng xa cách
-
Audio
Rồi
lá thay màu -
Audio
Con chim
biển 3 - T́m về tổ ấm -
Audio
Con
chim biển 2 - Trên biển khơi -
Audio
Con chim biển 1 - Tung cánh chim
-
Audio
Đốt sách ! -
Audio
Đi học
Sài G̣n
-
Audio
Thầy Chín - Audio
Đi buôn - Audio
Khi tôi về -
Audio
Làng tôi -
Audio
Sao em không đến
-
Audio
Anh đi! -
Audio
Vỉa hè đồng khởi
-
Audio
Ngày đại tang
Chuyện mất chuyện c̣n
Con chim Hoàng Yến
-
Audio
Nhớ cả trời Việt Nam
C̣n thương quê hương
tôi
Tôi muốn mời em về
Chuyện Tết
C̣n nhớ không em?
Trên đồi Tăng Nhơn Phú
-
Audio
Remember!
Cánh chim non -
Audio
Đốt sách
Buổi tựu trường
Đêm trắng
Nước mắt trong cơn mưa
Trăm đắng ngh́n cay
Con đường
tôi về
Hăy c̣n đó
niềm tin
Chiều ra biển
Những đứa con đẽ muộn
Một thời kỷ niệm
Băi tập
Bước chân Việt Nam
Người lính già
Để nhớ
Đi buôn
Ngày anh đi
Kỷ niệm xưa
Rồi tết lại đến
Bài thánh ca buồn
Tears of pride
We remember
Vui - Buồn … Ngày
hội ngộ 44 năm khoá 8B+C/72
Mùa hè đỏ lửa
Dư âm ngày hội ngộ
44 năm tại California
Có chuyến bay
Lời ca
Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để
quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết
NQ 23 VÀ NGUY CƠ ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC
GIA
Bản cảnh báo và cáo trạng của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng
sản trên toàn thế giới
Lời mở đầu
Chúng tôi là những người Việt Nam đă rời Việt Nam sau khi chế độ
Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam thiết
lập quyền kiểm soát trên toàn lănh thổ Việt Nam.
Nhiều người trong chúng tôi đă từng là thuyền nhân, người tỵ nạn
chính trị, người vượt biên, người bị đàn áp hoặc là con cháu của
những người tỵ nạn ấy.
Chúng tôi đă được các quốc gia tự do tiếp nhận.
Chúng tôi đă trở thành công dân hợp pháp của Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức,
Canada, Australia và nhiều quốc gia dân chủ khác.
Con cháu chúng tôi được sinh ra tại những quốc gia ấy. Nhiều người
trong thế hệ sau không chỉ có quốc tịch mà c̣n xác định quốc gia nơi
họ sinh ra và trưởng thành là quê hương do chính họ lựa chọn — a
homeland by choice.
V́ vậy, chúng tôi bác bỏ mọi quan niệm rằng nguồn gốc Việt Nam tự nó
tạo ra một quyền tài phán chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với chúng tôi.
Vietnamese ancestry is not a Vietnamese governmental
jurisdiction.
Chúng tôi là công dân của quốc gia sở tại.
Quyền tự do, an ninh, nhân phẩm và đời sống chính trị của chúng tôi
được bảo vệ trước hết bởi Hiến pháp và pháp luật của quốc gia mà
chúng tôi là công dân và đang sinh sống.
I. NQ 23 phải được đọc trong toàn bộ lịch sử chính sách đối với
người Việt ở nước ngoài
Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2 tháng 8 năm 2026 không xuất hiện trong
khoảng trống.
Nó kế thừa một chuỗi chính sách bắt đầu từ Nghị quyết 36-NQ/TW năm
2004, tiếp theo là Chỉ thị 45-CT/TW năm 2015 và Kết luận 12-KL/TW
năm 2021.
Chính Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận Chỉ thị 45 nhằm tiếp tục thực
hiện Nghị quyết 36, và Kết luận 12 tiếp tục triển khai Nghị quyết 36
và Chỉ thị 45.
Do đó, NQ 23 phải được xem là một giai đoạn mới của một chiến lược
kéo dài hơn hai thập niên đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài,
chứ không phải một văn bản chính sách độc lập.
Điều đáng chú ư là chính các tài liệu chính thức của Việt Nam sử
dụng từ “vận động” đối với người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những
người c̣n có “định kiến”, và nói tới việc “kiên tŕ vận động, củng
cố niềm tin”.
Điều đó chứng minh ít nhất một điều:
CSVN chủ trương tác động có tổ chức đến thái độ và hành vi chính
trị-xă hội của người Việt ở nước ngoài.
Điều đó tự nó chưa phải là tội phạm.
Nhưng đó là một fact có ư nghĩa an ninh khi được đặt cạnh những
phương thức cưỡng ép hoặc đàn áp xuyên quốc gia đă được các chính
phủ dân chủ ghi nhận.
II. NQ 23 đưa công tác này lên cấp độ “toàn hệ thống”
NQ 23 xác định công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm
của “toàn hệ thống chính trị”, phải được tiến hành “thường xuyên,
liên tục, toàn diện, đồng bộ”.
Nghị quyết cũng yêu cầu kiện toàn tổ chức, tăng cường phối hợp và
nguồn lực.
Đây là một điểm cần được cộng đồng quốc tế đặc biệt chú ư.
Một chương tŕnh có:
cơ quan trung ương;
cơ quan ngoại giao;
mạng lưới hội đoàn;
chuyên gia;
doanh nhân;
trí thức;
thanh niên;
thông tin-truyền thông;
hoạt động văn hóa, văn nghệ;
kết nối kinh tế;
có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Không phải mọi mục đích đều bất hợp pháp.
Nhưng institutional capacity creates capability.
V́ vậy, cộng đồng không nên chỉ hỏi:
“NQ 23 nói ǵ?”
mà phải hỏi:
“NQ 23 tạo ra năng lực ǵ để CSVN tiếp cận cộng đồng ở nước ngoài?”
III. Điểm nguy hiểm nhất: đừng nhầm “engagement” với “control”
Một chính phủ nước ngoài có quyền:
giao lưu văn hóa;
cung cấp dịch vụ lănh sự;
mời hội nghị;
khuyến khích đầu tư;
quảng bá ngôn ngữ;
duy tŕ quan hệ ngoại giao.
Nhưng không có chính phủ nước ngoài nào được quyền v́ thế mà:
đe dọa công dân nước khác;
cưỡng ép họ;
theo dơi họ;
tống tiền họ;
trả đũa họ;
tuyển họ làm agent bí mật;
ép họ thu thập thông tin;
ép họ gây ảnh hưởng chính trị;
hoặc dùng thân nhân ở quốc gia gốc để khống chế họ.
Đây là red line.
IV. Đàn áp xuyên quốc gia là vấn đề có thật
Hoa Kỳ không coi transnational repression là một khái niệm tưởng
tượng.
FBI mô tả đây là việc chính phủ nước ngoài t́m cách:
intimidate;
silence;
coerce;
harass;
hoặc harm
các cá nhân ở Hoa Kỳ.
FBI đặc biệt lưu ư rằng nạn nhân có thể là thành viên của các cộng
đồng diaspora/exile, kể cả công dân Hoa Kỳ. FBI cũng cảnh báo về
việc chính phủ nước ngoài tuyển hoặc cưỡng ép thành viên của cộng
đồng diaspora để giám sát và thu thập thông tin.
DOJ cũng xác định transnational repression là vấn đề liên quan tới
chủ quyền và nền dân chủ Hoa Kỳ.
Do đó:
Một người gốc Việt tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ không phải là “Việt
kiều hay kiều bào thuộc quyền quản lư của CSVN”.
Nếu họ bị một chính phủ nước ngoài đe dọa hoặc cưỡng ép trên lănh
thổ Hoa Kỳ, đó có thể là vấn đề của U.S. law enforcement and
national security.
V. Một nghị quyết của Bộ Chính trị không thể thay thế Hiến pháp
Hoa Kỳ
Đối với một người Việt đă trở thành công dân Hoa Kỳ:
U.S. citizenship > Vietnamese political classification.
Đối với một người Việt trở thành công dân Pháp:
French citizenship > Vietnamese political classification.
Tương tự đối với Anh, Đức, Canada, Australia và các quốc gia dân chủ
khác.
NQ 23 có thể định nghĩa người đó theo cách CSVN muốn trong chính
sách nội bộ của họ.
Nhưng định nghĩa ấy không tạo ra chủ quyền của Việt Nam trên lănh
thổ nước khác.
VI. “Người Việt Nam ở nước ngoài” không phải là một category of
jurisdiction
Đây là điểm cộng đồng cần tuyên bố rơ ràng.
“Người Việt Nam ở nước ngoài” là một political/administrative
category của Việt Nam.
Nó không phải là – a sovereign legal status overriding the
citizenship of the host country.
Một người có thể đồng thời là – Vietnamese by ancestry
Và, American by citizenship.
Hoặc, Vietnamese by ancestry
Và, French/British/German/Canadian/Australian by citizenship.
Hai khái niệm đó không mâu thuẫn.
Nhưng quốc tịch của quốc gia tự do xác định quyền công dân – hợp
pháp và hợp hiến – của người đó trên lănh thổ quốc gia ấy.
VII. Chúng tôi bác bỏ việc CSVN độc quyền định nghĩa “Tổ quốc”
Đây là vấn đề sâu hơn pháp lư.
Đảng Cộng sản Việt Nam không có độc quyền định nghĩa:
“quê hương”
“Tổ quốc”
“dân tộc Việt Nam”
đối với những người đă trở thành công dân của các quốc gia tự do.
Một người Việt tỵ nạn có quyền nói: Việt Nam là quê hương của tổ
tiên tôi.
Đồng thời: Hoa Kỳ là quê hương của tôi bằng sự lựa chọn.
Một người sinh ra tại California có thể nói: Vietnam is my ancestral
homeland; America is my homeland by choice.
Điều đó không phải là phản bội.
Đó là quyền tự xác định căn tính của một con người tự do.
VIII. Những “red flags” cộng đồng phải nhận diện
Cộng đồng không nên cáo buộc người khác chỉ dựa trên cảm giác.
Hăy nh́n vào conduct.
RED FLAG 1 — Bí mật tuyển mộ
Một cá nhân được yêu cầu:
theo dơi một người khác;
cung cấp danh sách thành viên;
thu thập thông tin về tổ chức cộng đồng;
báo cáo hoạt động chính trị;
xác định người lănh đạo;
cung cấp thông tin riêng tư.
RED FLAG 2 — Cưỡng ép
đe dọa;
tống tiền;
đe dọa thân nhân ở Việt Nam;
đe dọa tài sản;
đe dọa việc làm;
đe dọa hồ sơ giấy tờ;
đe dọa không cho về Việt Nam;
ép phải hợp tác.
RED FLAG 3 — Surveillance
theo dơi trực tiếp;
theo dơi mạng xă hội;
hacking;
spyware;
chụp ảnh;
ghi âm trái phép;
theo dơi hoạt động của tổ chức cộng đồng.
RED FLAG 4 — Political influence
bí mật chỉ đạo người Mỹ vận động chính trị;
bí mật tài trợ;
yêu cầu vận động chính sách thay mặt chính phủ Việt Nam;
yêu cầu liên hệ với quan chức Mỹ mà không minh bạch nguồn gốc chỉ
đạo/tài trợ.
RED FLAG 5 — Retaliation
Một người bị:
đe dọa;
quấy rối;
bôi nhọ;
gây áp lực lên gia đ́nh;
sau khi người đó:
biểu t́nh;
viết báo;
lên tiếng về nhân quyền;
phản đối CSVN;
vận động chính sách.
Đây là một dấu hiệu đặc biệt đáng quan tâm.
IX. Không nên biến mọi người có quan hệ với Việt Nam thành “tay
sai”
Đây là nguyên tắc để bảo vệ tính chính danh của cộng đồng.
Một người:
về Việt Nam thăm gia đ́nh;
đầu tư;
làm ăn;
tham dự hội nghị;
giao lưu văn hóa;
gặp Đại sứ quán;
không tự động là agent.
Ngược lại, một người:
chống CSVN;
vận động nhân quyền;
biểu t́nh;
viết báo;
không v́ thế phải được coi là phản động, “kẻ thù của dân tộc”.
Chúng ta phải chống hành vi bất hợp pháp, không chống căn cước hay
quan điểm.
X. Community Countermeasure: 10 nguyên tắc
1. KNOW YOUR RIGHTS
Mỗi cộng đồng nên có tài liệu bằng ngôn ngữ địa phương về:
quyền tự do ngôn luận;
quyền hội họp;
quyền lập hội;
quyền riêng tư;
quyền công dân;
quyền báo cáo hành vi cưỡng ép của chính phủ nước ngoài.
2. DOCUMENT EVERYTHING
Khi có dấu hiệu bất thường:
Date – Time – Place – Person – Organization – Request – Threat –
Evidence.
3. PRESERVE ORIGINAL EVIDENCE
Không chỉnh sửa:
email;
text;
voicemail;
screenshots;
video;
thư;
call logs.
4. DO NOT CONFRONT ALONE
Nếu có dấu hiệu đe dọa hoặc cưỡng ép, không nên tự ḿnh đối đầu với
người bị nghi ngờ.
5. REPORT, DON'T RUMOR
Báo cáo bằng chứng cho:
local police;
FBI;
DOJ;
cơ quan an ninh phù hợp;
luật sư.
Không biến tin đồn thành “bằng chứng”.
6. PROTECT COMMUNITY DATA
Danh sách:
thành viên;
địa chỉ;
điện thoại;
donor;
người lănh đạo;
người tham gia biểu t́nh;
không nên được trao cho người không có lư do chính đáng để tiếp cận.
7. CYBERSECURITY
Cộng đồng nên:
bật MFA;
sử dụng password manager;
cập nhật thiết bị;
bảo vệ email;
kiểm tra phishing;
đào tạo người quản trị.
8. SEPARATE CULTURE FROM POLITICAL CONTROL
Hoạt động văn hóa Việt Nam không cần phải trở thành công cụ của bất
kỳ chính phủ nào.
9. BUILD RELATIONSHIPS WITH HOST GOVERNMENTS
Cộng đồng nên có quan hệ minh bạch với:
elected representatives;
police;
FBI;
civil-rights organizations;
universities;
media;
legal professionals.
10. CREATE A TRANSNATIONAL-REPRESSION REPORTING NETWORK
Không để từng nạn nhân chiến đấu một ḿnh.
Một mạng lưới có thể:
receive → preserve → verify → classify → refer → report.
XI. Một nguyên tắc vàng
Không cần chứng minh CSVN là xấu để báo cáo một hành vi bất hợp pháp.
Nếu một người bị đe dọa:
report the threat.
Nếu bị stalking:
report the stalking.
Nếu bị hacking:
report the cybercrime.
Nếu bị ép làm việc cho chính phủ nước ngoài:
report the coercive recruitment.
Nếu bị trả đũa v́ hoạt động chính trị:
report the retaliation.
Không cần phải chứng minh toàn bộ NQ 23 là một “âm mưu”.
Hành vi cụ thể mới là evidence.
XII. Cáo trạng chính trị của cộng đồng
Chúng tôi không cáo buộc rằng mọi người Việt Nam ở nước ngoài có
quan hệ với Việt Nam đều là công cụ của CSVN.
Chúng tôi cũng không phản đối giao lưu văn hóa, kinh tế hay ngoại
giao b́nh thường.
Nhưng chúng tôi phản đối mạnh mẽ mọi nỗ lực:
xâm nhập, thao túng, cưỡng ép, theo dơi, tuyển mộ, đe dọa hoặc đàn
áp cộng đồng người Việt tỵ nạn trên lănh thổ của các quốc gia tự do.
Chúng tôi đặc biệt phản đối việc sử dụng:
thân nhân tại Việt Nam,
quyền lợi kinh tế,
thủ tục hành chính,
quan hệ gia đ́nh,
hoạt động ngoại giao,
tổ chức cộng đồng,
văn hóa,
truyền thông,
hoặc mạng xă hội
làm công cụ gây áp lực lên những người đang thực hiện các quyền hợp
pháp của họ tại quốc gia sở tại.
XIII. Lời tuyên bố của cộng đồng
Chúng tôi là người Việt.
Nhưng chúng tôi cũng là:
Americans.
French citizens.
British citizens.
German citizens.
Canadian citizens.
Australian citizens.
và công dân của những quốc gia tự do khác.
Chúng tôi đă tình nguyện chọn tổ quốc và quê hương của ḿnh.
Con cháu chúng tôi cũng có quyền lựa chọn quê hương của chúng.
Không một nghị quyết của một đảng chính trị nước ngoài có thể tước
bỏ quyền ấy.
Vietnamese ancestry is our heritage.
Our citizenship is our legal status.
Our freedom is our right.
Our homeland by choice is our choice.
Chúng tôi không chấp nhận việc bất kỳ chính phủ nước ngoài nào sử
dụng nguồn gốc Việt Nam của chúng tôi để áp đặt một quan hệ chính
trị mà chúng tôi không lựa chọn.
Chúng tôi tôn trọng nhân dân Việt Nam.
Nhưng chúng tôi denounce the Communist Party of Vietnam and the
political system of the Socialist Republic of Vietnam.
Chúng tôi không chấp nhận sự đồng nhất:
Vietnamese people = Communist Party
hay:
Vietnamese identity = allegiance to the Vietnamese Communist Party.
Hai điều đó không phải là một.
XIV. Thông điệp cuối cùng
NQ 23 cần được theo dơi không chỉ bằng những lời tuyên bố đẹp đẽ
trong văn bản, mà bằng:
what the Vietnamese state does, who it contacts, how it organizes,
what information it seeks, whom it recruits, what resources it
provides, and what happens when someone refuses.
Đó mới là phép thử.
Words are policy declarations.
Conduct is evidence.
Patterns are intelligence.
Coercion is a legal issue.
And evidence is what democratic governments can act upon.
*******************************************************************
II. ENGLISH
RESOLUTION 23 AND THE THREAT OF TRANSNATIONAL REPRESSION
A Warning and Community Accountability Statement by Vietnamese
Communist Refugee Communities Worldwide
Preamble
We are Vietnamese people who left Vietnam after the Communist Party
of Vietnam established political control over the country.
Many among us were boat people, political refugees, escapees, former
prisoners, victims of persecution, or descendants of those refugees.
Free countries gave us refuge.
We became lawful citizens of the United States, France, the United
Kingdom, Germany, Canada, Australia, and other democratic nations.
Our children and grandchildren were born abroad.
Many of them do not merely hold foreign citizenship. They regard the
country where they were born and raised as their homeland by choice.
We therefore reject any claim that Vietnamese ancestry creates
political jurisdiction by the Communist Party of Vietnam over us.
Vietnamese ancestry is not a Vietnamese governmental jurisdiction.
We are citizens of our respective countries.
Our rights, liberties, security, and political freedoms are
protected by the constitutions and laws of those countries.
I. Resolution 23 must be understood as part of a longer policy
Resolution 23-NQ/TW of August 2, 2026, did not appear in isolation.
It follows a policy sequence beginning with Resolution 36-NQ/TW in
2004, followed by Directive 45-CT/TW in 2015 and Conclusion 12-KL/TW
in 2021.
Vietnamese official sources themselves describe the late instruments
as continuations of Resolution 36.
Vietnamese official statements also openly use the concept of
“mobilizing” or “persuading” overseas Vietnamese, including people
described as still holding prejudices, with the objective of
patiently persuading them and building confidence.
That establishes an important fact:
The Vietnamese Communist Party-state openly pursues organized
influence among overseas Vietnamese.
That fact alone does not prove criminal conduct.
But it is highly relevant when assessing the potential for foreign
influence, coercion, and transnational repression.
II. Resolution 23 institutionalizes a whole-system approach
Resolution 23 describes overseas-Vietnamese affairs as the
responsibility of the entire political system and calls for
continuous, comprehensive, and coordinated implementation.
It also calls for strengthening organizational structures,
coordination mechanisms, and resources.
This means the relevant question is no longer merely:
“What does Resolution 23 say?”
The more important question is:
“What capabilities does Resolution 23 create or strengthen for
organized access to Vietnamese communities abroad?”
Institutional capacity creates capability.
Capability does not automatically equal abuse.
But capability deserves scrutiny.
III. Engagement is not the same as control
We do not object to legitimate:
cultural exchange;
consular services;
diplomatic contact;
investment promotion;
educational cooperation;
scientific exchange;
community events.
These are normal activities in international relations.
But no foreign government should be permitted to use such
relationships to:
threaten;
intimidate;
stalk;
blackmail;
retaliate;
secretly recruit;
coerce;
surveil;
collect intelligence;
or compel citizens of another country to perform unlawful
activities.
That is the red line.
IV. Transnational repression is real
The United States government recognizes transnational repression as
a genuine national-security and law-enforcement problem.
The FBI describes it as foreign-government efforts to intimidate,
silence, coerce, harass or harm people in the United States.
The FBI specifically identifies diaspora and exile communities as
potential targets and warns about foreign governments recruiting or
coercing members of diaspora communities for surveillance and
information collection.
Therefore:
A Vietnamese-American refugee is not a person under the political
control of the Vietnamese Communist Party simply because Vietnam
classifies that person as “overseas Vietnamese.”
If a foreign government attempts to threaten or coerce that person
in the United States, the matter may become a U.S. law-enforcement
and national-security issue.
V. A Politburo resolution cannot override the Constitution of the
host country
For a Vietnamese refugee who became a U.S. citizen:
U.S. citizenship governs his or her legal rights in the United
States.
For a Vietnamese refugee who became a French citizen:
French citizenship governs his or her legal rights in France.
The same principle applies to British, German, Canadian, Australian,
and other democratic nation citizenships.
Resolution 23 cannot transform an American citizen into a political
subject of Vietnam.
VI. “Overseas Vietnamese” is not a category of foreign
jurisdiction
“Overseas Vietnamese” is a political and administrative category
used by the Vietnamese government.
It is not a sovereign legal status that overrides the citizenship of
another country.
A person may simultaneously be -Vietnamese by ancestry
And, an American by citizenship.
Or, Vietnamese by ancestry
And, French, British, German, Canadian, or Australian by
citizenship.
There is no contradiction.
VII. We reject the Communist Party's monopoly over the definition
of homeland
The Communist Party of Vietnam does not possess the exclusive
authority to define:
homeland;
Vietnamese identity;
national belonging;
patriotism.
A Vietnamese refugee may say: Vietnam is the homeland of my
ancestors.
And also, America is my homeland by choice.
A child born in California may say: Vietnam is my ancestral
homeland; America is my homeland by choice.
That is not treason.
That is the freedom of identity.
VIII. Community red flags
Communities should not accuse individuals merely because of
suspicion.
Focus on conduct.
RED FLAG 1 — Secret recruitment
Requests to:
monitor another person;
provide membership lists;
collect political information;
identify community leaders;
report on dissidents;
obtain private information.
RED FLAG 2 — Coercion
threats;
blackmail;
threats against relatives in Vietnam;
threats against property;
threats concerning employment;
threats concerning documents;
threats concerning travel;
demands for cooperation.
RED FLAG 3 — Surveillance
physical surveillance;
cyber surveillance;
hacking;
spyware;
unauthorized monitoring;
tracking community organizations.
RED FLAG 4 — Political influence
Secret instructions or financing to:
lobby;
influence U.S. political activity;
contact government officials;
organize political campaigns;
advocate positions on behalf of a foreign government.
RED FLAG 5 — Retaliation
Threats or harassment following:
demonstrations;
journalism;
human-rights advocacy;
criticism of the Vietnamese Communist Party;
political organizing.
IX. Do not turn political disagreement into a collective
accusation
A Vietnamese-American who:
visits Vietnam;
invests in Vietnam;
attends Vietnamese cultural events;
meets diplomats;
supports Vietnamese-language education;
is not automatically a foreign agent.
Likewise, someone who:
opposes the Communist Party;
advocates democracy;
supports human rights;
protests against Vietnam;
is not automatically an enemy of the Vietnamese people.
Our standard must be:
conduct, evidence, and law — not ethnicity or political labeling.
X. Ten practical countermeasures
1. Know your rights
Communities should educate members about:
freedom of speech;
freedom of assembly;
freedom of association;
privacy;
citizenship rights;
reporting mechanisms for foreign-government coercion.
2. Document
Record:
Date – Time – Place – Person – Organization – Request – Threat –
Evidence.
3. Preserve originals
Keep:
emails;
texts;
voicemails;
screenshots;
videos;
letters;
call records.
4. Do not confront alone
If coercion or threats are suspected, do not escalate the situation
alone.
5. Report evidence, not rumors
Use appropriate channels:
local police;
FBI;
DOJ;
relevant national-security authorities;
qualified counsel.
6. Protect community data
Membership lists, donor information, addresses, phone numbers and
leadership information should be protected.
7. Strengthen cybersecurity
Use:
MFA;
password managers;
secure email;
device updates;
phishing awareness.
8. Keep culture independent
Vietnamese culture does not belong to any political party.
9. Build relationships with host governments
Develop transparent relationships with:
elected representatives;
law enforcement;
FBI;
civil-rights organizations;
universities;
journalists;
legal professionals.
10. Establish a transnational-repression reporting network
A community network should:
receive → preserve → verify → classify → refer → report.
XI. The golden rule
We do not need to prove that the Vietnamese Communist Party is evil
in order to report an unlawful act.
If someone is threatened:
Report the threat.
If someone is stalked:
Report the stalking.
If someone is hacked:
Report the cybercrime.
If someone is coerced into working for a foreign government:
Report the coercive recruitment.
If someone is retaliated against for exercising lawful political
rights:
Report the retaliation.
The evidence of conduct is what matters.
XII. Our political indictment
We do not claim that every Vietnamese person who maintains contact
with Vietnam is an agent of the Vietnamese Communist Party.
We do not oppose legitimate cultural, economic, or diplomatic
relations.
But we firmly reject any attempt to:
penetrate, manipulate, coerce, surveil, recruit, threaten or repress
Vietnamese refugee communities on the territory of free countries.
We especially reject the use of:
relatives in Vietnam;
economic interests;
administrative procedures;
family relationships;
diplomatic contacts;
community organizations;
culture;
media;
or social networks
as instruments for coercing people who lawfully exercise their
rights in their countries of citizenship.
XIII. Statement of the community
We are Vietnamese.
But we are also:
Americans.
French citizens.
British citizens.
German citizens.
Canadian citizens.
Australian citizens.
and citizens of other free nations.
We chose our homelands.
Our children have the right to choose theirs.
No resolution of a foreign political party can take that choice away
from us.
Vietnamese ancestry is our heritage.
Our citizenship is our legal status.
Our freedom is our right.
Our homeland by choice is our choice.
We respect the Vietnamese people.
But we denounce the Communist Party of Vietnam and the political
system of the Socialist Republic of Vietnam.
We reject the equation:
Vietnamese people = Communist Party
and we reject:
Vietnamese identity = allegiance to the Communist Party.
They are not the same thing.
XIV. Final warning
Resolution 23 should not be evaluated solely by its public language.
It should be evaluated by:
what the Vietnamese state does, whom it contacts, how it organizes,
what information it seeks, whom it recruits, what resources it
provides, and what happens when someone refuses.
That is the test.
Words are policy declarations.
Conduct is evidence.
Patterns are intelligence.
Coercion is a legal issue.
Evidence is what democratic governments can act upon.
The Vietnamese refugee communities of the world should therefore
neither panic nor become complacent.
We should remain:
lawful, organized, evidence-based, technologically secure,
politically independent, and firmly connected to the constitutional
institutions of our chosen countries.
Our response should not be hatred.
It should be law, evidence, vigilance, solidarity, and freedom.
2025
2024
2022-2023
2021
2020
2018-2019
2017
2016
2015
2014
2013
2012
2011
Hồi ức -
Một thời chinh chiến
No Easy Day - Ngày Vất Vả
Điểm &̀ Diện của
Nghị Quyết 23
Chút hương hoa bên kia trời cũ
Người khách đi xe
Người học tṛ cũ
Lương Y của người bên kia Chiến Tuyến
Hồi ức 1062 Thượng Đức
Kiếp Nhảy Dù - Chạy mất dép
Chân trời hạnh phúc
Tản mạn nhân ngày lễ Độc Lập
Một thằng bạn, một ông thầy
Anh hùng và tay mơ
Một quân đội bị lăng quên
Lá cờ không
chết
VN - TL: Ai sẽ thắng trong cuộc đua hóa rồng?
Đừng bắt tô Phở Gà gánh cả ngàn năm VH
Ngài Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa
Kỳ
SàiG̣n
muôn năm cũ
Ông già & hộp cơm nóng
Những cảm nhận sâu sắc về sự tàn ác của CSVN
Tháng 4 ôn lại
nỗi buồn
Nén hương thơm cho 1
lời xin lỗi muộn màng
Trung Tá Long đă chọn đúng chỗ đẻ tuẩn tiết
VNCH ngày cuối cùng
April 1975, April 2026 ai c̣n nhớ ...
Tháng Tư trong tuổi thơ em bé Ấn Độ
Một chút
lan man
Tháng Tư lại về
30/4 thử nh́n lại
Tháng
Tư lại về...
Ông thầy
việt văn
Dấu tích ngàn đời không phai
Vĩnh biệt Đ/T Phan Văn Huấn
Họ vẫn sống...
Khi người ghét
chiến tranh buộc phải đánh
Thương quá Sài G̣n ơi!
So sánh hai cuộc hải chiến với TC
Người biểu t́nh Cuba cướp phá văn pḥng...
Chinh nhân ca Trần Thiện Thanh
Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái
Mảnh vụn kư ức của Thượng Sĩ già HQ
Diễn
hành Tết tưng bừng với trống, pháo...
Duyên
tiền định
Thảm sát Mậu Thân, 1968: Một cuộc diệt chủng
Mậu Thân và thầy chùa Thiên Mụ
Cơn nước lũ
Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi
Những câu trả
lời thâm thúy
Sự khác biệt
giữa trẻ thơ & người già
Sắc không, không sắc
Nợ ân t́nh
Trời cuối đông buồn
Có
những chiều mưa
Chuyến hành quân cuối năm
Miền Tây quê tôi
Thanh Thúy - Tiếng hát khói hương chiêu niệm
Hải
Trường, Bến Đá & Đại Lộ Kinh Hoàng