Tác giả: Bill Laurie
Dịch giả: Nguyễn Tiến Việt
1. Phần 1
LTS: Nhân thời điểm 30/4, chúng tôi hân hạnh phổ biến lại bài
viết của Sử gia Bill Laurie như là một cử chỉ trân trọng tri ân và
góp phần phục hồi sự công bằng cho những người lính VNCH đă thực sự
hy sinh cho công cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do. ...
Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những
chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời tŕnh bày
quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa:
Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and
reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Đại Học
Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm
2006.
Trong số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan
điểm của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị
một chuyên viên t́nh báo cao cấp trong nhiều năm. Bài này được
chuyển ngữ từ nguyên bản bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để
tŕnh bày, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng
bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới
truyền thông Việt ngữ. Những chữ viết ngả để trong ngoặc đơn là chú
thích của tác giả để câu văn chuyển dịch mang được đầy đủ ư nghĩa
của nó.
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng
lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi
không hề được giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ư, và nh́n
chung th́ đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không
được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách
sử”. Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức
của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu
quả hoạt động và khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trước năm
1968.
Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đă hiện hữu,
hay phủ nhận rằng vấn đề tham nhũng, lănh đạo kém cỏi đă không gây
hiểm họa cho khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bảo vệ đất nước
họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, những vấn đề này có được giải
quyết, và những khía cạnh tích cực của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
không thể bị xóa bỏ khỏi trang lịch sử vinh quang.
Tôi đă tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971 và
phục vụ 1 năm tại MACV (Phái Bộ Quân Viện Hoa Kỳ tại Việt Nam), rồi
sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở Pḥng Tùy Viên
Quân Sự. (DAO)
Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi
tham dự khóa huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning
(Georgia), t́nh báo chiến thuật và chuyên biệt về Đông Nam Á ở Ft.
Holabird (Maryland), và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss (Texas).
Tới Việt Nam th́ được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần
để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2
với cương vị một chuyên viên phân tích t́nh báo, trước hết phụ trách
Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Công việc này mở rộng một cách không chính thức
để bao gồm công tác liên lạc giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa, các toán cố vấn Mỹ, các chính quyền tỉnh thị của Việt Nam,
và cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ở vùng IV. Trong 3 năm
đó tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong số 44
tỉnh của Việt Nam Cộng Ḥa, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ
và Việt Nam Cộng Ḥa mà cả với người Úc, cơ quan viện trợ Mỹ USAID,
và CIA. Khi th́ đứng vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết
tŕnh ở tổng hành dinh của MACV cũng như ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa, tuần lễ sau đó tôi có thể đă lội trên những ruộng
lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Địa Phương Quân, hay bay
ngang tỉnh Định Tường trên một chiếc trực thăng Huey của Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt Động Quân Trà Cú
bên sông Vàm Cỏ Đông.
Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong ṿng một tháng
sau khi tới Việt Nam, thật rơ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng
nghe ở Mỹ, dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc
nghếch trong các trường đại học, mà có thể diễn tả được những ǵ tôi
đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi “Nếu quả thật tất
cả những người ở Mỹ đang nói về Việt Nam, th́ ḿnh đang ở nơi nào
đây?”
Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn
trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài G̣n,
Cao Lănh, hay Rạch Giá, tôi cũng lui tới những cái quán nhỏ, với
những bàn cà-phê, ḿ, cháo... háo hức lắng nghe người dân, người
lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật nhiều, nhiều
hơn những ǵ tôi từng học ở Hoa Kỳ.
Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đă
đọc hằng khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả
những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ
lục nọ với những cựu chiến binh gốc Đông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn
t́m trong hằng trăm trang web Việt Nam và Đông Nam Á trên Internet.
Vẫn c̣n rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là
những ǵ công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở
các xứ ấy tự tŕnh bày lên th́ lại không phù hợp với những ǵ mà hầu
hết mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.
Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Đúng là có những
tấm gương về lănh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi
ư ǵ với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến với Sư Đoàn 9 Bộ
Binh Việt Nam Cộng Ḥa, tôi đă phát giác khả năng dày dạn và đầy
chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung
tâm hỏa lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Đoàn 7 Bộ
Binh Việt Nam Cộng Ḥa, đơn vị cứ măi bị kết tội v́ khả năng chiến
đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đă biến thái thành một đơn vị
có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lănh đạo chỉ huy của Tướng
Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một t́ vết, song
song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công
chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đă được người Việt Nam tôn sùng đúng mức.
Cũng không hề có ai ngụ ư hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng
Địa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đă làm
mất mặt chẳng những 1 mà tới 3 trung đoàn chính quy của quân đội
miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội. Họ đă nhai
nát nguyên cả lực lượng xung kích của đối phương, một lực lượng có
thể đă làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó.
Địa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ
như lực lượng chính quy Việt Nam Cộng Ḥa như Nhảy Dù, Biệt Động
Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật
chiến đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến
tuyến này th́ họ đă lập tức trực tiếp đe dọa Sài G̣n, chỉ cách đó 25
dặm, buộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa phải rút khỏi quốc lộ
13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và như
Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về
trận An Lộc), Sư Đoàn 21 tuy không thành công trong việc phá ṿng
vây An Lộc nhưng cũng đă buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi
hướng khỏi chiến trường An Lộc, nếu không, nơi này có thể đă sụp đổ
với những hậu quả khốc liệt.
Nói vắn tắt, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, một cách toàn diện, đă có
khả năng cao hơn nhiều so với những ǵ tôi biết trước khi tôi qua
Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những ǵ được chuyển tới cho
người dân Mỹ. Ngày trước... và ngày nay cũng vậy.
Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết tŕnh này, ai cũng
biết Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng.
Điều này là hiển nhiên. Nếu không như vậy th́ đă chẳng cần phải yêu
cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ, Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New
Zealand tới đó.
Tuy nhiên, c̣n có những chỉ dấu cho thấy lực lượng Việt Nam Cộng Ḥa
khi được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp th́ sẽ có khả năng tới
đâu.
Năm 1966 một tiểu đoàn Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă gây thiệt
hại nặng và đă “giúp” giảm quân số chỉ c̣n 1 phần 10 cho một trung
đoàn Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được
Tổng Thống Johnson tặng thưởng “Huy chương của tổng thống Hoa Kỳ”.
Đại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đă mô tả người đối tác
của ông, Đại Úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người
tuyệt nhiên không hề sợ hăi. Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, mang
huy hiệu Trâu Điên, đă từng bắt nạt nhiều đơn vị cộng sản miền Nam
và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu trâu điên
(càng có ư nghĩa đối với những ai đă từng gặp phải một con trâu đang
nổi giận (và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ không hề được tường
tŕnh trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau cũng bị
bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”...
Năm 1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội,
các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rơ là kế hoạch Việt
Nam hóa phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó
là ranh giới giữa hai thời kỳ, thời kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này
đă bỏ quên một dữ kiện là mức tử vong v́ chiến sự hằng tháng của
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc
chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.
Rốt cuộc th́ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng được cung cấp vũ khí
tối tân, thay thế những trang bị thời Thế Chiến Thứ Hai mà hầu hết
quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội
Việt Nam Cộng Ḥa được trang bị súng M16), nh́n chung th́ thua kém
vũ khí của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt. Đồng thời, quân số cũng
tăng tiến, theo như bảng dưới đây tŕnh bày:
(Bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy
và Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy
quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân.
Trong đó, Không Quân gia tăng quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%,
Lục Quân tăng gần 8% quân số).
Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of
Vietnam, có nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa (tác giả không đồng ư dùng nhóm chữ ARVN để chỉ
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of
Vietnam's Armed Forces). Ngoài ra c̣n những thành phần khác, gồm
Cảnh Sát Dă Chiến, Nhân Dân Tự Vệ, và các toán Xây Dựng Nông Thôn.
Lực lượng xây dựng nông thôn không được coi là lực lượng chiến đấu,
c̣n lực lượng Nhân dân Tự vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực
lượng này) cũng là chướng ngại cho quân Việt cộng và quân đội Bắc
Việt (North Vietnam's Army trong nguyên bản). Có lần một toán cán bộ
xây dựng nông thôn đă đẩy lui cả một tiểu đoàn Việt cộng ở tỉnh Vĩnh
Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm trợ. Chuyện này
cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.
Thành phần của lực lượng Nhân dân Tự vệ th́ quá trẻ, hay quá già,
hay v́ thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ
như lực lượng pḥng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển
mộ, hay tuyên truyền của cộng sản địa phương. Nhưng Nhân dân tự vệ
cũng là một yếu tố mà cộng sản địa phương phải đối phó sau năm 1968.
Trước đó không có lực lượng này, Việt cộng ở địa phương tự do đi vào
ấp xă lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân dân Tự vệ không có hiệu quả, nhiều
khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt cộng, nhưng có nhiều lúc khác
lại có những báo cáo như sau: (Trích từ các sách vở của các tác giả
người Mỹ).
“Hai Việt cộng đang bắt cóc một Nhân dân tự vệ th́ một Nhân dân tự
vệ khác xuất hiện, bắn chết hai Việt cộng này bằng súng M1 (không
ghi rơ garant hay carbine), tịch thu được một súng AK47 và một súng
lục 9 ly.”
Và “cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40.
Nhân dân tự vệ địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ.”
"Một Nhân dân tự vệ 18 tuổi đă là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu
tiên trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu hủy tại An
Lộc trong cuộc bao vây năm 1972."
Hà Nội không mấy hài ḷng về lực lượng này, theo như tài liệu
sau đây:
“Chúng (QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nh́n, củng cố chính
quyền bù nh́n và thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân
dân Tự vệ bù nh́n ở nhiều làng xă. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ
thuật và tính lưu động cho lực lượng bù nh́n, thiết lập những tuyến
pḥng vệ, và dựng ra cả một hệ thống pḥng thủ và đàn áp mới ở những
khu vực đông dân cư. Kết quả là chúng đă gây nhiều khó khăn và tổn
thất cho lực lượng bạn (Việt cộng).”
Sự kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân dân
Tự vệ được thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến
thứ hai do các lực lượng QLVNCH chuyển giao lại.
Tương tự như vậy, lực lượng Nghĩa quân, Địa phương quân với sự trợ
giúp của các toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968
và trang bị vũ khí tốt hơn, khởi sự tiến bộ, như cố vấn David
Donovan thuộc một toán lưu động chứng kiến trong một trận tấn công
bộ binh năm 1970:
“Chúng tôi vừa vượt khỏi khu ḿn bẫy chính th́ bị hỏa lực từ một
rặng cây trước mặt bắn tới. Nước văng tung tóe xung quanh, đạn bay
véo véo trên đầu, trong tiếng súng nhỏ nổ ḍn. Binh sĩ bây giờ phản
ứng tốt lắm, không giống như trước kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần
như tê liệt. Trung sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi của đội h́nh hàng dọc,
bung qua bên phải, sử dụng như thành phần điều động tấn kích, trong
khi chúng tôi ở phía trước phản ứng lại hỏa lực địch. Khi toán của
Abney tới được chỗ địa thế có che chở th́ họ dừng lại và bắt đầu tác
xạ. Dưới hỏa lực bắn che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai
thành phần chúng tôi yểm trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây,
sẵn sàng xung phong. Ba người trong toán của tôi bị trúng đạn, không
biết nặng nhẹ ra sao nhưng mọi người đều xông tới. Chúng tôi đă hành
động khá hay.”
Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John
Cook nhắc lại niềm lạc quan của ông vào năm 1970:
“Chúng tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên
tinh thần, cảm thấy như ḿnh là “kim cương bất hoại”. Tinh thần
chiến đấu và hăng hái chủ động tấn công trong quận hết sức cao,
khiến chúng tôi truy kích quân địch một cách gần như khinh suất,
liều lĩnh.”
Những thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị
không đáp ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lănh đạo chỉ huy
kém cỏi, chẳng thực hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật
chủ động tấn công nào. Có khi cố vấn Hoa Kỳ suưt bị giết hay bị dọa
giết bởi những sĩ quan địa phương của Việt Nam mà họ không ḥa thuận
được. Nhiều cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu đó, nhưng
cũng chẳng có ấn tượng tốt nào về hoạt động của những đon vị mà họ
cố vấn. Dù sao th́ những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ
chứng kiến cũng đầy rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những
cuộc thảo luận trên nước Mỹ hay trong ư tưởng của những người Mỹ
b́nh thường, cũng như trong những ǵ được dạy dỗ tại các trường học
Hoa Kỳ.
2. Phần 2
Sự tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải
chỉ hiển hiện trong những lực lượng lănh thổ và những sư đoàn bộ
binh VNCH, (là những đơn vị) thường bị cho là không mấy nổi trội về
chiến thuật chủ động tấn công....Cố vấn về kế hoạch b́nh định của
tỉnh Quảng Trị, Richard Stevens, trước đó từng phục vụ trong Thủy
quân Lục chiến Mỹ tại Việt Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích
của một đơn vị thuộc sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam trong trận tấn công
một vị trí phóng hỏa tiễn của quân Bắc Việt:
“Tôi có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách
thức hành quân và sự táo bạo của họ trong mọi việc... Đây là cuộc
hành quân thứ 13 như vậy do vị tiểu đoàn trưởng này chỉ huy. Ta đang
nói chuyện về những chuyên gia hết sức tinh thục trong những ǵ họ
làm, những người đă từng thực hiện những công tác sởn tóc gáy và vẫn
tiếp tục thực hiện... Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói
với tôi lúc tôi ra đó, rằng ‘anh đang làm việc với những người giỏi
nhất. Chúng ta không có điều ǵ để mà có thể nói cho những người này
làm. Chúng ta (các cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hỏa lực mà thôi. C̣n
về sự hiểu biết trong hành quân, th́ họ là người dạy chúng ta.'
Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ đều nói y như
nhau.” (tác giả trích luận án Master năm 1987 của Howard C.H Feng,
đại học Hawaii).
Ở miền Nam, trong lănh thổ tỉnh Định Tường thuộc quân khu IV, Sư
đoàn 7 bộ binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm,
theo lời xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng
chuyển quân cho các binh sĩ sư đoàn 7 trong những trận tấn công. Sư
đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né” (thay v́ “lùng
và diệt”, search and destroy), có thể v́ trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng
những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói ǵ hơn là những lời
ca tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng
hái xông xáo. Một cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của
sư đoàn 7 bộ binh:
“Vùng giải phóng bị thu hẹp... Tôi mất thêm thời gian di chuyển
quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH. Ở Bến Tre
(tức tỉnh Kiến Ḥa) sư đoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều
khó khăn. Hầu hết sư đoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu
Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như
chúng tôi.” (tác giả trích dẫn David Chenoff và Đoàn văn Toại, sách
Chân dung kẻ địch, Random House ở New York xuất bản năm 1986).
T́nh h́nh c̣n tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền
khuyết cho các đơn vị “Việt cộng”, không hiểu biết chút nào về vùng
này và được trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía Bắc
vùng châu thổ. Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau
khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh phục kích một cuộc
hành quân càn quét của sư đoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước
b́nh minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta th́ lại bị tấn công
từ phía sau do thành phần bên sườn của sư đoàn 7, trước khi tới lượt
lực lượng chính. (Tài liệu trích dẫn).
Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và
1971, thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa,
trong khi những cuộc hành quân tấn công của Việt cộng và quân Bắc
Việt lại bị suy giảm rơ rệt:
(Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam
từ năm 1968 đến 1971 đă giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn
công của Việt cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%,
chỉ c̣n 2 trận, những cuộc tấn công lẻ tẻ của phía cộng sản cũng
giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xă ấp có an
ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9.8%, thương vong v́
chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt
cộng, Bắc Việt trên toàn miền Nam giảm 21%).
Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía cộng sản giảm hơn là tỉ
lệ giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân
sự, dưới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Điều này xảy ra
trong khi quân số tham chiến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quân cộng sản
Bắc Việt và Việt cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lănh
thổ, mà c̣n kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.
Nhiều con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xă ấp
có an ninh th́ lại c̣n kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng
khá rơ ràng, và không có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt,
mà nêu ra điều ǵ khác hơn là sự xuống dốc thẳng đứng trong thời vận
của quân Việt Cộng và quân đội Bắc Việt trong khoảng thời gian từ
1968 đến 1971. Trong khi Việt cộng, gọi như vậy để phân biệt với
quân Bắc Việt, không bị tiêu diệt hoàn toàn, và những ổ kháng cự có
ảnh hưởng mạnh do họ kiểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương
Thiện, Định Tường, Quảng Nam, Quảng Ngăi, th́ Việt cộng ở địa phương
cũng không c̣n là một lực lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập
đại quy mô của quân Bắc Việt và sự cung cấp vũ khí hiện đại, th́
chiến tranh đă dần dần tự tàn lụi. Những đơn vị và khu vực của Việt
cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không phụ thuộc vào quân đội Bắc
Việt để sống c̣n. Tác giả “phản chiến” Frances Fitzgerald của cuốn
“Lửa trong hồ” (thật khôi hài, là cuốn sách bị đả kích bởi cả người
chỉ đạo về tư tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện, lẫn người ủng hộ
Mặt trận Giải phóng và Hà Nội, Ngô Vĩnh Long), nh́n nhận rằng khả
năng sinh tồn của cả Việt cộng lẫn QLVNCH hồi năm 1966 là mỗi bên
50%, nhưng đến 1969 th́ cơ hội sống c̣n của Việt cộng chỉ c̣n 10%,
trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn Thành, sau
23 năm theo Việt cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh của Mặt
trận giải phóng là vô vọng.
Ông ta nêu ra những cuộc hành quân gia tăng của QLVNCH, sự phát
triển những đơn vị Nghĩa quân Xă, Quận và các chương tŕnh Nhân dân
Tự vệ, cùng với kế hoạch cải tổ về ruộng đất của chính phủ VNCH, coi
đó là những việc không thể đối phó được nữa. Stanley Karnow khẳng
định thằng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao quá đáng của ông,
không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971, th́ “riêng phía
Việt cộng không phải là đối thủ của quân đội chính quyền Sài G̣n.”
Don Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến
qua lối bày tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối
rủa sả om ṣm những ǵ mà ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đă
phải chịu đựng những khó khăn trở ngại, những khởi đầu sai lạc cùng
những vấn đề tương tự, bị coi như toàn những điềm gở. Nhưng năm 1971
Don Colin cũng thấy những kết quả tích tụ hiển hiện ở vùng châu thổ:
“Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở quân khu IV
chỉ đếm được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh quân đoàn, một cấp
chỉ huy tốt, trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát,
thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt
động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh Sư đoàn th́ phần lớn thiếu
khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các
cấp chỉ huy thuộc quyền của họ th́ chẳng những noi gương xấu mà
nhiều khi c̣n phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay th́
chuẩn mực chung về tài năng, sự trong sạch và tận tâm đă tăng lên
tới mức mà trước kia tôi cho là không thể tưởng tượng được. Sự thay
đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở khả năng tối
hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập
một chính quyền ổn định.”
Rồi tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến
phối hợp phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg),
với đặc điểm là những vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người
được đưa ra sử dụng như hỏa tiễn tầm nhiệt pḥng không SA-7, hỏa
tiễn công phá điều khiển bằng dây AT-3, những đoàn chiến xa T-54
được yểm trợ bằng mấy trăm khẩu đội hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly,
hơn hẳn tất cả mọi thứ từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo
binh QLVNCH. QLVNCH bị đánh tơi bời, có lúc đă gần tới kết cuộc, và
sự đổ vỡ hiển hiện rơ ràng. Nhưng cái quân lực đang nằm đo ván đă
đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8, hồi phục sức lực và bẻ găy cuộc tấn công
nặng nề nhất ở Việt Nam, tính tới lúc đó.
Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam,
Douglas Pike, đă tuyên bố cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là v́
“...Nam Việt Nam chiến đấu hơn hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương
Bắc.” Nhiều nhà b́nh luận, kể cả Tướng Ngô Quang Trưởng, nói tới
không lực Hoa Kỳ như một yếu tố quyết định, th́ đó đúng là yếu tố
chính. Nhưng những điều ngụ ư nói là QLVNCH không thể chiến đấu nếu
như không có không lực Mỹ, th́ đă thiếu sót hai điều căn bản. Thứ
nhất, quân đội Mỹ cũng chỉ được yểm trợ bằng không lực giống như
QLVNCH đă được. Thứ hai, là điểm người ta ít nh́n ra: Không lực Hoa
Kỳ là một yếu tố bổ sung để cân bằng với hai lực lượng vượt trội của
Bắc Việt là thiết giáp và, lợi hại hơn cả, là lực lượng pháo binh
hơn hẳn, hỏa tiễn 122 ly chính xác và đại pháo 130 ly gây tàn phá
quy mô ở tầm tối đa 19 dặm (32 km).
Hoa Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi
hại ngang bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung
cấp cho Hà Nội. Hà Nội có hằng trăm hỏa tiễn 122 và đại pháo 130.
QLVNCH không đủ đại bác để phản pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không
chính xác bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly và 130 ly. Cả pháo đài
kiên cố cũng không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm. Tựu
chung, trở lại đề tài không lực, th́ Không quân Việt Nam đă thi hành
nhiệm vụ một cách đáng kính phục trong các trận chiến năm 1972,
nhưng vẫn bị giới b́nh luận Hoa Kỳ hoàn toàn quên lăng. Một chuyên
viên Điều không Tiền tuyến của Hoa Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công
A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng thi hành một vụ tấn công không lục
vào vị trí quân Bắc Việt:
“Anh ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh,
và quả nhiên tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh
Pepper dẫn đầu. Tôi la lên báo động, th́ đă thấy anh thả bom ở độ
cực thấp và ghi một bàn tuyệt hảo trúng ngay bức tường. Trong những
lần oanh kích tiếp theo ngay đó, các phi công của Không quân Việt
Nam cũng ghi bàn hoàn hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ bị
đạn pḥng không bắn lên xối xả... Hỏa lực từ mặt đất vô cùng mạnh
mẽ. Quân Bắc Việt có vẻ như biết rằng đối thủ của họ là người Nam
Việt Nam.
“Tôi tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả
hết bom đạn của họ trúng đích, không hề hấn ǵ. Hai phi công không
quân Việt Nam đă tŕnh diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục
ḷng can đảm của họ trên cả sự thông minh. Trong giây phút đó ḷng
can đảm ấy đă vượt hẳn sự khôn ngoan trong những tính toán hơn thiệt
về sự an toàn của cá nhân họ.”
Đây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát
viên không quân của Mỹ chứng thực:
“Không quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích
1972... Trong trận pḥng thủ Kontum KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt
diệu.”
QLVNCH lănh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với
trận Tết Mậu Thân 1968, về khía cạnh quân số và hỏa lực. Ước lượng
có khoảng gần 150 ngàn quân Bắc Việt đă tham chiến trong giai đoạn
1, và thêm 50 ngàn quân khác bổ sung khi trận chiến tiếp diễn. Mặt
khác, trong trận Tết 1968 chỉ có 84 ngàn quân Việt cộng và Bắc Việt
tham chiến, với pháo binh và xe tăng rất hạn chế. (ngoại trừ ở quân
khu I).
QLVNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hiệp định Paris gian lận
được kư kết và bị vi phạm lập tức. Cuối Tháng 11 năm 1973 một lực
lượng đặc nhiệm VNCH đă đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ
Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi Sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải
giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng
sau sư đoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc
Việt khỏi mặt khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Định Tường-Kiến
Tường-Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ
bị xâm phạm trong suốt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí
pḥng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền
cộng sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của
họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần. Các phái đoàn Ba Lan và Hungary
trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên bất lực, chỉ là gián điệp
cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973
xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với QLVNCH, và
cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được
với các đơn vị Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến của VNCH.
Tuy nhiên đến giữa 1974 th́ việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ
từ siết cổ QLVNCH, và đạo quân này chỉ c̣n nước xuống dốc dần dần từ
khi ấy. Đến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR)
dành cho đạn đại bác đă giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như
theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày:
Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tủy. Nhiều binh sĩ bộ binh
được cấp số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một tuần lễ.
Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một.
Các đơn vị chạm địch có khi bị giới hạn chỉ c̣n được bắn yểm trợ hai
trái đạn đại bác, ngoại trừ khi bị tràn ngập.
Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy bay... nằm ụ
chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”).
Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH và gia đ́nh họ phải chịu thiếu thốn khi
nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp.
Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82%
binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đ́nh. Đói kém
và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu. T́nh
h́nh những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau ḷng chứng
kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến v́ hằng ngàn vết thương.
Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như
những sách gọi là sách sử, th́ nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại
sao mọi thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng
chú ư hơn phải là tại sao QLVNCH đă có thể chiến đấu dài lâu sau
thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn
dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đ́nh
cũng đói khát không kém?
Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông
Thiệu rút khỏi vùng cao nguyên, th́ khủng hoảng và kinh hoàng xảy
đến, phần nào tăng thêm v́ những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ
dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhă sau cùng, vẫn có
không ít những trận “Alamo” nhỏ của những người lính VNCH chiến đấu
đến phút cuối.
Sư đoàn 18 đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có
mặt và vai tṛ của của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề
được biết đến. Khi quân khu II đổ vỡ và kết cuộc đă gần, Sư đoàn 7
VNCH vẫn đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14,
con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long vói Sài G̣n.
Vào ngày cuối, gọi là “ngày quốc hận” (tác giả viết bằng tiếng
Việt), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu ṇng do các Trung
Úy Thanh và Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) c̣n bay quanh Sài G̣n
yểm trợ hỏa lực cho những đơn vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng,
hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân
biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đă mất hết rồi. Nhưng các
Trung Úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược, và
được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do Thiếu Tá Trương Phụng và
Đại Úy Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng
chỉ c̣n Đại Úy Phúc sống sót, oanh kích đến khi hết đạn. Hai Trung
Úy Thanh, Hiền và Thiếu Tá Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử
trận. Họ đă chiến đấu đến măi tận giây phút cuối cùng!
Một cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đă bị th́ không một quân
đội nào có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc
Việt, với thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe
tải quân, đạn dược, do khối cộng sản cung cấp. Trước một đạo quân
VNCH bị rút ruột v́ cắt viện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đă phải
tung ra tất cả những ǵ họ có. Chừng 400 ngàn quân cộng sản, gần 90%
là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa
bao giờ từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đă
ném vào trận chiến năm 1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn
vị từ Lào, Cambodia. Về lượng, quân số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân
Việt cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi tết 1968, trong khi về phẩm, c̣n
có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và
nguyên một kho vũ khí hiện đại. Đoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn
gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng cộng sản hồi Tết Mậu
Thân 1968.
3. Phần kết
Xem xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ
sai lầm rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi v́ cắt giảm mức cung
ứng như QLVNCH đă gánh chịu,...th́ họ không bao giờ có thể tung ra
một cuộc tổng công kích sau cùng, mà hẳn đă yếu kém hơn thế nhiều.
Ưu thế hỏa lực quyết định chiến trường, chẳng phải là điều ǵ mới lạ
trong lịch sử quân sự. Vào lúc cuối, QLVNCH chịu sự tổn thất khoảng
275 ngàn tử trận, không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà
dân số trung b́nh khoảng 17 triệu. Nước Mỹ với dân số 200 triệu, nếu
chịu tổn thất với tỉ lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy,
con số tử vong sẽ là 3 triệu 200 ngàn, cần dựng thêm 56 bức tường đá
đen nữa mới đủ ghi tên tử sĩ.
Điều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert
Thompson, tuy biết rơ những nhược điểm của QLVNCH, cũng kết luận:
“Quân đội và chính phủ VNCH vượt qua những cuộc khủng hoảng quốc gia
và cá nhân mà có thể đă nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức
tổn thất có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, VNCH vẫn duy tŕ
được một triệu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương quốc
Anh cũng làm được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917,
sau ba năm chiến tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ
chưa bao giờ làm được điều này.” (được nhấn mạnh và thêm vào).
Kư giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng
nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài G̣n thất thủ:
“Nam Việt Nam quả đă phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ṛng
ră, không phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc
gia hay xă hội nào mà tôi cho là có thể chiến đấu được lâu dài đến
thế.”
Kế hoạch Việt Nam hóa có hiệu quả không? QLVNCH có trưởng thành nên
một lực lượng chiến đấu có khả năng?
Có thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hóa có hiệu quả, nhưng lại
bị moi ruột v́ cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974 có cuộc thăm ḍ
các tướng lănh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm t́m hiểu
chương tŕnh Việt Nam hóa thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả
lời như sau:
QLVNCH là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận?: 8% đồng ư.
QLVNCH xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương lai?: 57%
đồng ư.
Có nghi ngờ khả năng QLVNCH có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh
của lực lượng Việt cộng-Bắc Việt trong tương lai?: 25% nghi ngờ.
Ư kiến khác và không ư kiến: 10%.
Như vậy 65% các tướng lănh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho QLVNCH tỉ lệ
phiếu thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đă mang khuynh
hướng lệch theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị tướng phục vụ
trong khoảng 1966-1967, trước khi QLVNCH thực hiện những đổi thay to
lớn nhất. Chức vụ mà các sĩ quan này đảm trách là ǵ, họ làm việc
với ai, và họ quen thuộc với quân đội VNCH ở mức độ nào, sự tăng
tiến hiệu năng của lực lượng Địa phương quân, Nghĩa quân, vân vân...
cũng không được tiết lộ. Câu hỏi cũng không hỏi: “Nếu quân đội Mỹ
cũng bị cắt giảm cung ứng như QLVNCH vào năm 1974-1975 th́ c̣n đứng
vững được bao lâu?”
Điều có thể nói chắc chắn, là QLVNCH từ 1968 trở đi đă hoàn thành
nhiệm vụ tốt đẹp hơn nhiều so với những ǵ được biết đến một cách
chung chung, rằng các đơn vị QLNCH đă thi triển tài năng để có thể
đứng vững và đánh bại quân xâm lược Bắc Việt trong năm 1972, thường
là không cần tới sự yểm trợ hỏa lực ồ ạt của pháo binh và không quân
chiến thuật, như trong trường hợp của Nghĩa quân và Địa phương quân.
Điều có thể nói chắc chắn nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc
này thấp kém đến kinh tởm, thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.
Một yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà b́nh luận bỏ qua và tới
nay vẫn không biết ǵ hơn, là thế hệ các sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH
trẻ trung hơn, hết ḷng hết dạ v́ mục tiêu một nước Việt Nam không
cộng sản. Họ cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nh́n
nhận phải trái, ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối
xử thấp kém hơn, rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia
Việt Nam mới cần được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá
khứ. Nhiều người trong số này có thể có vị trí tốt để tránh quân
dịch hay giữ một chỗ an toàn, không ra trận; nhưng họ không cần cả
hai thứ đó, đă có mặt trong hàng ngũ phục vụ tại những vị trí chiến
đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những người t́nh nguyện. Thái độ của
họ được một sĩ quan trẻ của QLVNCH bày tỏ:
“Những người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội v́ chúng tôi có một lư
tưởng, chúng tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra
sao, và sống trong thế giới cộng sản ra sao. Không phải như người ta
nói, rằng những ai vào quân đội th́ chỉ v́ đến tuổi lính và không có
lư tưởng ǵ riêng cho ḿnh. Nhưng người Mỹ có vẻ không bao giờ hiểu
ra điều đó.”
Trần Quốc Bửu là chủ tịch Liên Đoàn Lao công Nam Việt Nam, tương
đương với AFL-CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh hưởng và có thể xếp đặt cho
con trai ông t́m một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí
của anh này là một sĩ quan bộ binh VNCH. Trong những tuần lễ sau
cuối của VNCH, lúc bị Bắc Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong
cảnh thiếu đạn, con ông Bửu viết cho ông một lá thư:
“Ba phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của t́nh h́nh
chúng ta... Họ phải cung cấp viện trợ quân sự và kỹ thuật như họ đă
hứa. Con xin ba, ba à, hăy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ
bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ
chết... Trong mọi t́nh huống, con sẽ giữ vững vị trí và không rút
lui.”
Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường (sau đó).
Bác sĩ Phan Quang Đán là quốc vụ khanh về định cư và tị nạn, một cựu
đối lập với ông Ngô Đ́nh Diệm, nổi tiếng nhờ trong sạch. Ông có đủ
quyền lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị
nguy hiểm. Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn t́nh
nguyện lái A-1E Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho
các đơn vị dưới đất. Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại
khu vực ngưng chiến, trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, Đại Úy
Tuấn bị hỏa lực pḥng không địch bắn rơi, tử trận.
Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người viết bài này hằng
ngày gặp những phi công trực thăng vơ trang trẻ tuổi, những sĩ quan
trẻ trong Biệt động quân, Thủy quân lục chiến, Nhảy dù, tất cả đều
t́nh nguyện lănh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị “lưỡng đầu thọ
địch”, với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam cộng sản, và với nạn
tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài G̣n.
Một trong những tấm gương gây xúc động hơn nữa về
ḷng tận tụy với chính nghĩa quốc gia, là cảnh các sinh viên sĩ quan
trường Vơ Bị quốc gia Đà Lạt chuẩn bị cho trận đánh sau cùng của họ,
mà kư giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào lúc họ tiến ra để chặn
các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:
“- Anh sắp bị giết đó!
- Vâng. Một sinh viên sĩ quan trả lời.
- Sao vậy? Đă kết thúc rồi mà!
- Tại v́ chúng tôi không ưa cộng sản.”
Và, ḷng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục
mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết.
Trường Thiếu Sinh quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học
tŕnh có dạy quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi
đến lúc cuối, những em trai 12-13 tuổi đuổi các em thiếu sinh quân
nhỏ hơn về nhà, lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các
đơn vị quân Bắc Việt:
“Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đă đầu hàng!...
Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân cộng sản tiến vào, các
thiếu sinh quân đánh trả. Cộng sản không vào được ngôi trường ngay
lúc đó.”
Những con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực
của QLVNCH, và nhu cầu cấp bách của t́nh h́nh buộc sự thăng thưởng
phải dựa trên khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ
gia đ́nh.
Giới truyền thông Hoa Kỳ đă thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn
toàn và thê thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của VNCH,
Hoa Kỳ và các đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp
đầy tự phụ và tự măn.
Một cuộc thăm ḍ 9,604 chương tŕnh truyền h́nh của NBC, CBS và ABC
từ 1963 đến 1977 cho thấy rơ những sự thiếu sót của những cái gọi là
bài tường thuật truyền h́nh.
0.7% chương tŕnh nói về việc huấn luyện QLVNCH.
0.8% về b́nh định.
2.7% về chính quyền hay quân lực VNCH hay Cambodia.
Tổng cộng chỉ có 392 chương tŕnh, tức 2.7% toàn bộ các chương tŕnh
tin tức truyền h́nh Mỹ, tường tŕnh về Việt Nam. Không có một lời
nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên, không một lời về QLVNCH thiện
chiến. Không có ǵ về những phi công “Ong Chúa” (King Bee) lừng danh
của trực thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán lực lượng đặc biệt
Hoa Kỳ chạm địch dọc đường ṃn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu
không phải là tất cả, đều nhớ h́nh ảnh bi hùng của một người Trung
Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không
ai biết Trung Sĩ Thủy quân Lục chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng
trên cầu Đông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu
súng chống tăng LAW của anh:
“Cảnh tượng anh lính TQLC nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường
tiến của 40 xe tăng không có ư nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh
th́ là dại dột một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng
hơn, h́nh ảnh này mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng
pḥng thủ mỏng manh đến thê thảm, và với nhiều người tị nạn, ít ai
trong số đó từng chứng kiến một hành động thách đố dũng cảm đến
thế... Sự anh dũng lạ thường của người lính thủy quân lục chiến Nam
Việt Nam này đă khiến đợt tấn công bằng xe tăng, tới lúc đó chừng
như chắc chắn phải thắng lợi, đă bị mất đà tấn kích.”
Trong một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên
tiếng, th́ phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm
nào khi đến thăm sư đoàn 7 bộ binh VNCH, nơi đă trở nên một đơn vị
có hiệu năng cao tuyệt dưới tài lănh đạo của Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Quân nhân trong Sư đoàn nhận thức rơ giá trị những nông trại của Sư
đoàn do tướng Nam thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh
sĩ của Sư đoàn 7. Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở
một điểm chắn đường của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó,
th́ Kirk lại thất vọng v́ anh ta không có cơ hội để nói chuyện với
bộ đội Bắc Việt:
“Tôi cứ nghĩ măi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim...
Họ có vẻ là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi
đă có thể ở lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn.”
Ông Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ Sư đoàn 7 đều là “những tay
chính quy”, rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng
này, cũng như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đă không
để ư ǵ đến việc đó, cho nên không có ǵ kỳ bí về nguyên nhân v́ sao
hầu hết những người Mỹ từng phục vụ tại Đông Nam Á đều nh́n cái giới
truyền thông tin tức này với sự khinh miệt gay gắt.
Phải chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp
gỡ, như tôi đă làm nhiều lần, th́ đám kư giả hẳn đă biết trong mắt
những người Việt ấy chủ nghĩa cộng sản của Hà Nội là điều đáng khinh
bỉ và kinh tởm, như một loại phản bội văn hóa và truyền thống Việt
Nam. Không phải những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ
“chế độ tham nhũng của Thiệu”, mà là để ǵn giữ một cuộc sống tốt
đẹp hơn cho người dân, cho con cái, và cho đất nước của họ. Một Thủy
quân Lục chiến Việt Nam diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều
này, khi anh ta nói với tôi rằng sau khi quân đội VNCH giải quyết
xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ quay súng lại chống đám tham nhũng
ở Sài G̣n. Những sự kiện thảm thiết bi thương sau năm 1975 đă chứng
thực tính thuận lư và giá trị của điều quyết tâm ấy.
Giới truyền thông giải trí và giới giáo dục ở Hoa Kỳ cũng chẳng khá
ǵ hơn, mà c̣n măn nguyện khi lặp lại, nếu không phải là thêm mắm
thêm muối vào cái chuyện thần thoại do truyền thông dựng lên. Một
cuốn sách sử trung học được sử dụng rộng răi ở Mỹ có chương sử về
Việt Nam không hề nói đến Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, chỉ viết rằng:
“Việt Nam hóa thất bại,” ngoài ra c̣n gom góp hơn 200 điều khẳng
định có thể được chứng minh là sai trái và mang hoàn toàn tính chất
dẫn dắt lạc hướng, trong 13 trang bài học. Có nói đến vụ tấn công
sang Cambodia, nhưng không nói ǵ về việc quân Việt Nam Cộng Ḥa
tham dự đông đảo hơn lực lượng Hoa Kỳ, 29 ngàn quân so với 19,300
quân Mỹ tham chiến. Sách cũng không nói lên rằng trước khi chính
thức mở chiến dịch, quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă tấn công trước vào
các vị trí pḥng thủ của quân đội Bắc Việt ở Cambodia. Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa đă hoàn toàn vô h́nh, như một đề tài sẽ được tŕnh bày
nơi đây (trong cuộc hội thảo).
Phim ảnh và truyền h́nh lại càng tệ hơn, mặc dù có được một số phim
tài liệu lịch sử. Cả cuốn phim “Bat 21”, nhằm miêu tả cuộc t́m cứu
trung tá Iceal Hambleton năm 1972, không thể hiểu được tại sao đă
loại hẳn sự kiện là một chiến sĩ Người Nhái Việt Nam, Nguyễn Văn
Kiệt, người cùng thi hành công tác t́m cứu đó với người nhái Hoa Kỳ
Tom Norris, được tặng thưởng huy chương US Navy Cross do sự dũng cảm
và anh hùng của Kiệt. Làm sao công chúng có thể trông mong được biết
bất kỳ điều ǵ khi mà chế độ “kiểm duyệt” trên thực tế đă bôi xóa
tất cả và từng dấu vết của sự hoạt động gương mẫu của Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa?
Sau cùng, cần phải nh́n nhận rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă bị
đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: Đó là
một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc,
dưới h́nh thức cái chính phủ Hoa Kỳ.
Một hội nghị chuyên đề toàn diện nên được tổ chức về đề tài này, và
cần phải có hội nghị đó. Những chiến lược giả hiệu phát xuất từ
Washington, về bản chất, phải bị coi là cẩu thả mang tính cách tội
ác. Không một hành động nào được tung ra để chặn và giữ đường ṃn Hồ
Chí Minh. Không có con đường này th́ cuộc chiến tranh của Hà Nội đă
không thể nào tiến hành được. Không một việc ǵ được thi hành để
giao chiến với chiến tranh thông tin tuyên truyền-phản tuyên truyền
dưới h́nh thức gọi là địch vận, một trong những chiến lược quan
trọng của Hà Nội, được thi hành với những sự lừa gạt quỷ quyệt xuất
chúng. Không làm một việc ǵ măi đến khi cơ quan CORDS được thành
lập để ra kế hoạch và phối hợp những hoạt động quân sự và b́nh định
về mặt t́nh báo. Không làm một việc ǵ để khai triển một liên minh
rộng lớn như một chiến trường chung của người Việt, người Lào, người
Cambodia và Thái Lan, chống lại kẻ thù chung, trong khi Hà Nội đă
làm y như vậy: thiết lập một cấu trúc chỉ huy chiến trường Đông
Dương nhằm kết hợp mọi yếu tố vào một chiến lược gắn bó cho toàn khu
vực. Lư cớ về lănh đạo của Hoa Kỳ là mù ḷa, lần ṃ vụng dại như con
heo trên tảng băng, như một con cóc vàng, rất giàu có nhưng cũng rất
ngu độn. (Những chữ in đậm là những chữ tác giả viết bằng tiếng
Việt)
Những kế hoạch, những đề nghị đi ngược ḍng lịch sử khó có thể được
chứng minh hoàn toàn chắc chắn, và có thể chiến tranh (Việt Nam đă
qua) là một cuộc chiến không thể nào thắng được.
Có thể như vậy. Tuy nhiên những người Mỹ, người Úc đă phục vụ sát
cánh những chiến hữu của họ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, “những
chiến hữu, bạn bè, giống như anh em ruột,” (viết tiếng Việt trong
nguyên bản) mang trong ḷng họ nỗi buồn sâu xa v́ đă thua cuộc, hay
đă mất biết bao bạn bè tận tụy, mất cả niềm vinh dự lớn lao cho việc
đă cố gắng đạt cho kỳ được một thế giới tốt đẹp hơn cho những người
dân thường của Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan. Họ không bị thúc
đẩy v́ những quan niệm tinh vi về địa lư chính trị thế giới, nhưng
đúng hơn, là do sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhiều người Đông
Nam Á đă biết yêu quư xứ sở, những con người đă “thề bảo vệ giang
sơn quê hương”.
Nhiều trang lịch sử c̣n chưa được lật ra, phản ảnh sự tiếp nối cái
khuynh hướng của Hoa Kỳ chỉ toàn nh́n qua con mắt người Mỹ, bị lọc
qua định kiến của người Mỹ. Một số sách vở nói đến Việt Nam như một
“giai đoạn thử thách đầy khổ đau của Hoa Kỳ,” mà chưa từng một lần
hỏi xem người Đông Nam Á đă trải qua loại thử thách khổ đau nào. Đầy
dẫy những dữ kiện lịch sử quư giá và những nét quan sát sắc sảo nằm
trong những cuốn sách được viết do người Việt Nam (và cả người Lào).
Thiếu những sách đó, không thể nào có được sự hiểu biết toàn diện.
Những tác phẩm của Lư Ṭng Bá, Hà Mai Việt, Phạm Huấn, Phan Nhật
Nam, Trần Văn Nhựt, và nhiều người khác, đang kêu gào đ̣i được dịch
thuật, cũng như hằng chục bài phổ biến hằng năm trên sách báo tạp
chí quân sự và các ấn bản khác. Nhiều bài trong đó mô tả những trận
đánh, những diễn tiến và những nhân cách, không hề được các sử gia
Hoa Kỳ biết đến.
Không tham khảo những nguồn đó th́ chắc chắn là chiến tranh Việt
Nam, cũng là Chiến Tranh Đông Dương của Hà Nội, sẽ măi là những bí
ẩn không thể giải đoán, và lịch sử chân thực của Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa sẽ măi bị chôn vùi dưới tầng lớp này qua tầng lớp nọ của
những chuyện hoang đường, của sự không thông hiểu, và của sự giả
định vô căn cứ./.
Cảnh Sát Dă Chiến
VNCH
Trung
Đoàn 44 trong Mùa Hè Đỏ Lửa ở Kontum
Thông Báo v/v cải táng tử sĩ thuộc TrĐ48, SĐ18BB
Vua Duy Tân
Lịch pháp bách Việt
QLVNCH - 1968-1975
Thông Báo v/v cải táng tử sĩ thuộc TrĐ48, SĐ18BB
Vua Duy Tân
Lịch pháp bách Việt
Đại đội 72,
TĐ7 ND mất tích trên chuyến bay định mệnh ngày 11 tháng
12 năm 1965
Nhảy Dù và
Cổ Thành Đinh Công Tráng
Nhân chứng lịch sử:
Mậu thân Huế
Trận KAMPONG
TRACH 1972
T́m mộ
chiến sĩ QLVNCH tại thị xă An Lộc
Trả lại sự thật v/v
Sư Đoàn 3BB lui binh...
Thống Tướng Lê Văn
Tỵ
Tướng Đỗ Cao Trí và
Tôi
Những ngày cuối cùng của QLVNCH
Tướng Dư Quốc Đống
Dư âm Cửa Việt
Tướng NGÔ
QUANG TRƯỞNG...
Lịch sử Cảnh Sát
Quốc Gia VNCH
Người Nhái VNCH
Mùa hè đỏ lửa 1972
Không Quân
VNCH và Chiến trường An lộc
NT Nguyễn Mạnh Tường
Tưởng niệm Quốc
Hận 30 tháng 4
Bậc thầy vĩ đại
Quân Dù tiến về
thành nội Tết Mậu Thân
Một ngày với Đô Đốc
Chung Tấn Cang
Tr/T Huế, chiến binh
anh dũng và trung thành với Tổ Quốc
Sinh Vi Tướng, Tử Vi Thần -
Trung Tướng Dương Văn Đức
Viễn thám
Hổ Cáp - Gia đ́nh 9 Kỵ Binh cuối
tháng tư 75
Cố Thiếu Tướng
Trương Quang Ân
Sống anh dũng, chết
nghiên ngang
Chuyến công tác cuối
cùng
Cái chết của Cố Thiếu Tá
BĐQ TRẦN Đ̀NH TỰ
Chuyện một người
chiến binh...
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
Tháng 3 buồn hiu...
Người Lính Ǵà
Không Bao Giờ Chết
Thành h́nh của Quân Lực VNCH
Hăy thắp cho anh
một ngọn đèn
Những ngày cuối cùng của
Truờng Bộ Binh
Một chuyến đi toán phạt
Những NT Vơ Khoa TQLC
Tôi nh́n đồi 31 thất thủ
Ngày tàn cuộc chiến
Tiểu Đoàn 5 Dù - Trấn
thủ B́nh Long; thượng kỳ Quảng Trị
Quân trường
Những người lính bị
bỏ rơi
Tết với người lính cũ
Thái Dương - Nguyễn Văn Xanh
Phi vụ Tống Lệ Chân
Trên đỉnh Chu Pao
Trung Tá Nguyễn Văn Cư
Vài biến cố đàng
sau mặt trận Tây Nguyên 75
Trận đánh phi
trường Phụng Dực...
Sinh nhật thứ 58 - Trường
BB/TĐ
Trung Sĩ Vũ Tiến Quang
Mũ Đỏ, mũ Đen
Chân dung người Chiến Sĩ
CIA và các ông Tướng
Dựng Cờ
Bước tượng Thương Tiếc
Kẽm gai bọc thây anh
hùng
Lịch sử h́nh thành
QLVNCH
Văn tế Chiến Sĩ Trận
Vong
Người lính
VNCH trong mắt tôi (video)
Cà-fê nha, Chuẩn Úy?
Chân dung người
lính VNCH
Chiến thắng An Lộc 1972
Quảng Trị - Mùa hè đỏ lửa
Trương Văn Sương - Người tù
bất khuất
Chết trận Đồng Xoài
Ư nghĩa ngày QL 19/6
Viết cho ngày QL 19/6
Sự h́nh thành QL 19/6
Nhân ngày QL 19/6
Tâm t́nh ngày QL 19/6
Bối cảnh
chính trị quân sự trước 19/6
VNCH bị bức tử
Thủ Đức... gọi ta về
Chân dung người lính
VNCH
Sự thất về cái chết
của Tướng Lê Văn Hưng
Người lính không có số
quân
Giày Saut trong tử địa
Chuyện tháng 4 của những
chàng BK
Trung Tá CSQG Nguyễn
Văn Long
Những v́ sao thời lửa đạn
Mùa hè đỏ lửa: Phần 1,
Phần 2,
Phần 3
Lịch sử chiến tranh VN từ
1945...
Thời chinh chiến
Tiểu Đoàn 5 Dù
Tưởng niệm Tướng Trần Văn
Hai
Vài kỷ niệm với Tướng Lê Nguyên
Vỹ
Tiểu Đoàn 42 BĐQ - Cọp Ba Đầu Rằn
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân
QLVNCH
Những người trở về
với đại gia đ́nh dân tộc
Khe Sanh trong ṿng vây
Vietnam,
Vietnam
Từ Mậu Thân 68 đến mùa hè đỏ
lửa 72...
Trận đánh Đức Huệ
Lam Sơn 207A - Khe Sanh
Trận chiến Khe Sanh
Mật trận Thượng Đức -
1974
Quốc Kỳ và Quốc
Ca Việt Nam
Cái chết trong tù
CS của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát
Sự đáng sợ cuả nước
Mỹ
Oan hồn trên xứ Huế
Sau 42 Năm, Nh́n Lại Vụ Tết Mậu Thân
Mưa Đồng Tháp Mười
Chăn gối với kẻ thù
Ông Lộc Hộ - Anh hùng vô danh
Cải cách ruộng đất...
Giờ thứ 25
Biến động miền Trung
Người Mỹ phản bội
chúng ta
cs nằm vùng
Những ngày cuối
của TT Nguyễn Văn Thiệu ở SG
T́m hiều về h́nh Tiếc
Thương và Vá Cờ
Tháng Tư đen
Giờ phút hấp hối Thành
Phố Đà Nẵng
Ai giết đức thầy Huỳnh Phú
Sổ
H́nh ảnh VN từ 1884-1884
Thổn thức cho VN
Valentine trong di
sản Chiến Tranh
Hoàng Hậu Nam Phương
Thảm sát ở Tân Lập
Hố chôn người ...
T́nh h́nh nhân quyền
ở VN năm 2007
Người Việt xây thành Bắc
Kinh