Hồi còn rất bé, mấy Ông Anh
họ có một lần dẫn NNS về thăm Phố núi Pleiku, rồi ngược Bắc lên
KonTum. Thành phố núi với cái ngây ngây lạnh thật giống Dalat Quê
nội của NNS. Có dòng sông chảy ngược qua Lào, từ Đông sang Tây, chứ
không xuôi về biển (như Hội Trùng Dương). Nhìn hoa Dã Quì nở vàng
trên triền đồi, lòng người thật nôn nao. Ngày ấy NNS có lần sững sờ
nhìn dốc đá dựng đứng khi xe chạy qua Đường 14, xuyên Đèo Chu Pao,
mà vẫn còn mang ấn tượng cho đến hôm nay. Dù sau bao năm lưu lạc nơi
xứ người, tiếp xúc và bị ảnh hưởng một phần nào nền Văn hóa Phương
Tây, nhưng NNS vẫn giữ chặt được Bản sắc Á Đông của mình, thoáng
hiện về một Quê nhà xa lắc xa lơ đó, mà thương mà nhớ. NNS vẫn còn
thuộc lòng mấy câu Thơ (Hình như của Nhà Thơ Mường Mán thì phải,
chắc phải nhờ các bậc Đàn Anh: Hoàng Xuân Sơn, Hà Nguyên Dũng, Phan
Ni Tấn, Luân Hoán, Mạc Phương Đình, Trần Kiêu Bạc...chỉ dùm cho NNS,
trọn bài này, đăng đâu đó ở Văn...), mới diễn tả được hết nét "Phong
trần, Hoang dã, nhưng thật Anh dũng" của những Người Lính miền Nam :
"....................................
Gió hú đầu cây chân đá dựng
Hoàng hôn thêm chạnh nỗi thương nhà.
Thương nhà Ta uống dăm bầu rượu
Nhớ bạn đành quên ngửa mặt cười
Đất đỏ bụi hồng thân gió cát
Mai về Quê cũ biết còn ai.
Còn ai chinh chiến vui cùng lửa
Súng ngó Trời xanh mắt ngó rừng
Đêm đốt đèn soi mình với bóng
Quê nghèo Em đó có rưng rưng...".
Sau này NNS đọc Thơ của Vũ Hữu Định, mới càng thấm thía hơn "vùng
Đất đỏ Phố Núi của Lính ngày xưa". Đặc biệt đỉnh Chu Pao, đã đi vào
lòng người, từ năm xưa Mùa hè Đỏ Lửa và là một nét son Anh dũng của
Quân Lực Miền Nam. Con đường "sạn đạo" chỉ vài cây số ấy đã phí phạm
biết bao xương máu của người Việtnam mình.
Lớp hậu sinh như NNS , bây giờ muốn biết về Chu Pao, con đường tắm
máu của Quân Dù khi lui Quân về Pleiku, chỉ đành giở lại những trang
sách cũ của Nhà Văn Phan Nhật Nam đọc để Tri ân và Ngưỡng mộ.
Trong pps Nhạc: Còn Chút Gì Để Nhớ, Thơ Vũ Hữu Định, Nhạc Phạm Duy,
Tiếng hát Vũ Khanh..có slide đầu là con đường độc đạo 14, ngang qua
2 bên dốc đá dựng đứng, là đồi Chu Pao
Bài viết ngắn dưới đây tuy không lột xác được về sự tàn khốc trong
chiến tranh ở Chu Pao như nhà văn Phan Nhật Nam đã ghi lại trong Mùa
Hè Đỏ Lửa, về sự hy sinh cao cả cho Tự do của những "Người Anh thật
xứng đáng" trong cuộc chiến, hay sự phũ phàng man rợ như trong Nỗi
Buồn chiến Tranh của Bảo Ninh...nhưng cũng thoáng hiện được thật nhẹ
nhàn về một mảnh đời lính thật bình thường đâu đó trên miền đất đỏ
Cao nguyên đau khổ này. Đọc để nhớ vùng Đất đỏ Cao Nguyên của Lính..
Sau pps có một bài Thơ Chẳng Hay của Vũ Hữu Định. Rất tiếc người Sĩ
quan "Tiền đồn Biên giới" này đã mất đi khi còn quá trẻ, chỉ để lại
8 bài Thơ, nếu không hậu thế còn được thưởng thức những bài Thơ rất
"Đời và Mượt mà" của Anh.
NNS

Bên cạnh quốc lộ 14, trên con đường huyết mạch
nối dài từ Buôn Mê Thuột qua Pleiku đến Kontum, một căn nhà nhỏ nằm
trơ trọi gần đỉnh đèo Chư Pao, một rặng núi cao chừng 1500 thước mà
người Jarai gọi là Chư = Núi Pao. Căn nhà mái lá, vách trát đất bùn
gần như cố bám víu vào sườn núi cheo leo dốc ngược, phía dưới là
thung lũng sâu thăm thẳm..
Trời vào mùa xuân, tuy đã hơn 9 giờ sáng, mà mặt trời mới ló ra khỏi
đám sương mờ bao phủ những ngọn núi trùng trùng điệp điệp và cánh
rừng sâu ngút ngàn phía dưới. Tiếng chim rừng vang vọng trong cảnh
vật mơ hồ huyền ảo để đón chào bình minh cũng như bắt đầu cho một
ngày mới. Xa xa một con hoẵng cô đơn tép lên những tiếng rời rạc, âm
thanh hình như không thoát ra khỏi vùng suơng mù dầy đặc.
Co ro trong ba bốn lớp áo dầy cộm cũng không xua được cái lạnh của
núi rừng ngấm vào tận trong cơ thể, Sơn với chiếc bật lửa Zippo châm
ngọn lửa vào chiếc đèn dầu hôi trên chiếc bàn bằng mấy khúc cây ghép
lại. Ánh lửa tuy nhỏ nhưng cũng mang lại một chút gì ấm áp, dù chẳng
đủ để xua làn sương băng giá. Lấy chiếc đóm bằng nan nứa chẻ mỏng,
Sơn nhóm ngọn lửa hồng trên chiếc bếp lò bằng chiếc chảo gang đã vỡ.
Bước vội ra ngoài múc chút nước còn sót lai trong chiếc vại sành đã
mẻ miệng. Hơi lạnh ùa vào trong nhà như muốn dập tắt ngọn lửa leo
lét vừa được nhúm lên. Căn nhà dường như ấm áp hẳn lên với ánh lửa
chập chờn soi trên vách đất quét vôi trắng loang lỗ vì nước mưa ngấm
vào…
Qua cánh cửa hé mở, nhìn xuống con đường chạy vòng chân núi quanh
co, khúc khuỷu lúc ẩn lúc hiện sau tàng cây, gộp đá bàng bạc sương
mù. Trên con đường đèo độc đạo này, xưa kia đã xẩy ra những trận
đánh kinh hồn đẫm máu, nhất là vào năm 1972. Bom đạn đã phá tan tành
nhửng xe cộ, súng ống và nghiền nát thịt xương con người, máu đỏ đã
nhuộm thắm cỏ cây, hốc đá dọc theo con đường tử lộ. Bây giờ cây cối,
giây leo đã phủ kín mọi chỗ cũng như thời gian đã xóa mờ hình ảnh
thảm khốc ngày nào...
Ngoài hiên những dò phong lan đủ loại mang về từ các cánh rừng núi
Tây nguyên ngút ngàn tiếp nối trong khu vực tam giác Kontum, Cheo
reo và Pleiku: Hạc đính (Phaius tankervillae) với những chiếc lá
xanh to bản và những dò hoa thẳng đứng cao gần một thước, mầu hoa
ngoài trắng trong nâu cúi mặt e ấp như những cô gái còn đương hàm
tiếu, Chu đinh (Spathoglotis plicata) với những bông hoa vắt vẻo ở
đầu cành mang mầu tím Huế, mầu áo của những nữ sinh Đồng Khánh. Vài
khóm Tục đoạn (Pholidota articulata) mới nhú mầm xanh trên ngọn gần
như đã chết khô. Đây đó vài cụm Hoàng kiếm lan (Cymbidium
finlaysonianum) lá dài và cứng mầu xanh bóng loáng có những chùm hoa
mầu hổ phách buông thõng dài hơn một thước, bên cạnh là những khóm
lan Hoàng thảo xương khô (Den. mannii) thân khẳng khiu gầy guộc như
chiếc xe điếu trúc...
Năm đó Sơn vừa tròn 18 tuổi, cái tuổi hãy còn hồn nhiên, chàng đã bị
cuốn hút vào vòng lửa đạn. Sau những tháng ngày thụ huấn quân sự,
Sơn được bổ xung cho một đơn vị thám báo tại miền rừng rậm núi cao.
Khu rừng này đầy rẫy những cụm lan rừng, một thứ hoa lạ lùng đối với
chàng thư sinh chỉ biết vúi đầu vào trong sách vở. Sinh ra và lớn
lên trong một thành phố nhỏ bên bờ sông Hậu, ghe thuyền dưới sông và
xe cộ trên bờ lúc nào cũng tấp nập vội vã, bỗng dưng bị ném vào một
khung trời hoàn toàn xa lạ. Khác lạ từ khóm cây ngọn cỏ, đồi núi
chập chùng, rừng già hoang dã. Núi liền núi, rừng tiếp với rừng,
đường mòn quanh co hun hút. Ở đây, dân chúng thưa thớt họa hoằn mới
có một xóm nhà hiu hắt của những người kinh và một vài buôn của
người thựơng bắt đầu bằng chữ Plei như Plei Mei, Plei Me rong v.v...
Con đường đèo uốn khúc quanh co, lên dốc,xuống đèo thỉnh thoảng mới
có bóng dáng một vài thổ dân mang nấm, mang măng ra vệ đường bán cho
những chiếc xe đò qua lại. Lâu lâu một đoàn xe nhà binh hay xe thiết
giáp nặng nề di chuyển, tiếng máy xe gầm rú vang trời, bỏ lại phía
sau những đám bụi mù phủ dầy thêm một lớp cho đám cây lá bên đường.
Ngày đó, khi đi dọc theo những con sông, con suối hoặc len lỏi qua
những con đường mòn vào buôn người Thượng chàng bắt gặp biết bao
nhiêu loài phong lan kỳ ảo quyến rũ. Lan mọc trên thân cây cổ thụ
hay trên những cành cây cao thấp phủ đầy tầm gửi. Lan mọc bên bờ
suối trong vắt, uốn mình qua những tảng đá rêu xanh trơn trượt hay
trên vách đá vôi cheo leo bên bờ vực thẳm, chỗ nào cũng có những đóa
phong lan dị hình, dị sắc. Những buổi thám thính quanh vùng Sơn đã
góp nhặt khá nhiều hoa lan đủ loại.
Sơn còn nhớ rõ, sau mấy ngày lạc lối trong khu rừng rậm rạp âm u,
chàng và đồng đội đành lội xuôi theo giòng suối cạn, hy vọng tìm về
một bản người Thượng ở cuối nguồn nước. Vừa chui ra khỏi khu rừng
rậm phủ đầy gai góc chàng nghe có tiếng cười đùa ròn rã của những
người con gái vang trong một khúc rừng hoang vắng. Ra hiệu cho đồng
đội dừng lại và giữ im lặng, chàng bò theo những ghềnh đá cao hơn
đầu người, len lỏi sau những khóm cây lòa xòa che khuất.
Một khoảng rừng thưa hiện ra trước mặt, cây cối hình như đã được tạo
hóa xắp đặt vây quanh một vùng lâm tuyền hạ giới. Giữa khoảng trời
quang đãng và làn nước trong xanh quyến rũ đó một bầy thiếu nữ, toàn
thân không một mảnh vải, thản nhiên tạt nước đùa nghịch. Duới ánh
nắng, những mảng da thit trắng hồng tương phản mầu lá cây rừng xanh
thẫm. Những tòa thiên nhiên lồ lộ, những đồi núi rung rinh gợi cảm
nổi bật bên đám cỏ mượt mà ở vùng cấm địa làm cho chàng có cảm tưởng
là mình lạc đến chốn Đào Nguyên tiên cảnh. Trong số này có một người
có vẻ cao lớn hơn, da dẻ cũng trắng trẻo hơn và trên má bên trái có
một bớt chàm khá lớn. Mới đầu Sơn nghĩ rằng đó là những thổ dân tắm
sưối, nhưng không, giọng nói của bầy thiếu nữ trong trẻo rõ ràng như
giọng người miền suôi cả Nam lẫn Bắc.
Chưa kịp nhận định hay có một phản ứng nào rõ rêt, bên kia giòng
nước bỗng một đám người áo xanh, nón cối xuất hiện. Bầy con gái vội
vã lên bờ mặc quần áo, nhập bọn và mất hút sau những lùm cây xanh
tốt. Hoảng hồn, Sơn và đồng đội nằm yên bất động rồi lặng lẽ rút
lui.
Vài hôm sau, chàng lại gặp khuôn mặt có vết chàm và thấy tiếng nói
trong trẻo đó khi hỏi mua những khóm phong lan treo trước cửa một
căn nhà trên đường đi đến sóc Polei Krong. Sơn giả vờ như không biết
chuyện tắm suối và cũng chẳng thèm để ý tới vết chàm trên khuôn mặt
diễm kiều. Nàng vui vẻ cởi mở tiếp đón và chàng cũng không ngần ngại
làm quen. Tiếp theo sau, một vài lần hò hẹn trong quán cà phê hay
ngắm cảnh hoàng hôn bên đồi lộng gió, họ quấn quýt lấy nhau như nam
châm cuốn hút mạt sắt vụn. Sơn quàng lên chiếc cổ trắng ngần một tấm
khăn quàng mầu hồng phấn. Thảo tặng chàng một khóm lan Nhất Điểm
Hồng (Dendrobium draconis) với chùm hoa cánh trắng, nhi mầu vàng
cam. Thân cây còn non có những cọng lông đen xuốt từ gốc tới ngọn,
nàng giải thích mầu trắng là mầu tượng trưng cho sự trinh bạch và
một chấm mầu đỏ hồng nói lên tấm lòng thủy chung như nhất. Ôm nàng
vào lòng, Sơn đùa cợt hỏi:
Thế còn những cụm lông tơ đen mượt tượng trưng cho cái gì hở em?
Thảo đỏ mặt và tặng cho chàng một cái lườm tưởng chừng như siêu
thành đổ quách. Nàng cũng không ngần ngại cho Sơn biết rõ về việc
nàng giả dạng vào rừng kiếm lan nhưng thực ra gia đình nàng bị bắt
buộc phải tiếp tế lương thực, thuốc men cho đám người lẩn trốn trong
đó.
Ý hợp tâm đầu, cùng một sở thích yêu mến loài hoa của rừng sâu núi
thẳm, cùng chán ghét cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, một cuộc
chiến cho những chủ nghĩa ngoại lai làm cho xứ sở tan hoang, gia
đình tan nát Họ hẹn cùng nhau khi đất nước thanh bình sẽ về đây sống
cuộc đời bình dị giữa đám hoa cỏ thiên nhiên. Thế rồi một hôm trên
đường đến chỗ hẹn, Sơn bị bọn người lạ mặt bắt đi. Vào tới rừng sâu,
họ trói chặt chàng vào gốc cây rồi rủ nhau xuống suối bắt cá. Đương
nghĩ quẩn quanh tìm phương kế trốn thoát, Thảo bỗng xuất hiện, cởi
trói cho chàng và cùng nhau đào tẩu. Họ chưa kịp hoàn hồn bàn tính
những chuyện gì phải làm trong ngày tháng sắp tới, chiến tranh đã
bùng nổ khốc liệt và tàn nhẫn hơn bao giờ hết. Núi rừng Tây nguyên
bị bom đạn giáng xuống long trời lở đất. Trận chiến diễn ra liên
tiếp trên con đường đèo, trên khắp mảnh đất quê hương đã cằn cỗi lại
càng thêm cằn cỗi.
Nhưng rồi chiến tranh cũng đến lúc phải chấm dứt, người lính hai bên
ngỡ ngàng trở về với một nỗi chán chường, nhưng tạm an ủi rằng mình
không phải như các đồng đội đã bỏ xác trên chiến đia, hy sinh cho
một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Sau 3 năm là tù cải tạo, Sơn trở về,
mới hay gia đình chàng không còn một ai sống sót trong một cuộc hải
hành đau thương khổ ải. Người dân lúc này sống trong sự thiếu thốn
và trong sự đổi thay khắc khổ về mọi mặt. Không thân thich, không
nghề nghiệp chuyên môn và nhất là không còn hộ khẩu, Sơn không còn
gì để lưu luyến chốn phồn hoa đô hội. Chàng trở về Tây Nguyên hy
vọng gặp lại người xưa cùng nhau thực hiện mộng ước ngày nào. Chàng
dựng một căn nhà nhỏ bên đèo Chu Pao mong gợi sự chú ý của nàng và
tìm lan, kiếm măng nấm sinh nhai độ nhật. Nhưng đã năm năm, rồi mười
năm trôi qua từ thôn trên, bản dưới, xóm nhỏ quận huyện, chàng hỏi
thăm khắp nơi cũng chẳng tìm ra tung tích.
Ngày qua tháng lại, Sơn đành sống im lìm, câm nín với một cuộc đời
vô vọng như lũ cây rừng, như giòng suối quanh co. Còn đâu những ngày
má kề má, vai tựa vào nhau, đôi tay quấn quýt! Giọng nói thanh tao
thánh thót như tiếng chim rừng, tiếng cười giòn rã chỉ còn vang lên
trong tâm khảm. Giòng suối trong vắt hiền hòa với những khóm lan đủ
mầu, đủ sắc chẳng còn là nơi lý tưởng. Ánh trăng thu vằng vặc treo
trên đầu núi chẳng còn là ánh trăng thơ mộng ngày nào, tất cả chỉ
còn là một mảnh trăng cô đơn, lạnh lẽo, buồn thiu...
Mấy ngày qua, một chiếc xe du lịch nhỏ vòng lên lượn xuống khúc đèo
Chu Pao, vài ba lần dừng lại trước căn nhà nhỏ cổng khóa im lìm, sau
đó xe chạy qua Trung Nghĩa lên Kontum, đổ sang Lệ Trung, trở về
Pleiku, băng sang Plei Rong rồi trở lại Plei Roh. Cuối cùng xe cũng
dừng lại trước căn nhà nhỏ lúc này cổng đã rộng mở. Từ trong xe, một
thiếu phụ xinh đẹp buớc ra. Ví khoác trên vai, áo thun mầu lá mạ úa
bó sát vòng ngực nở nang, chiếc quần bò hơi chật ôm lấy đôi chân dài
có những ngón sơn mầu đỏ chót. Bước lên vài bậc đá còn ướt sũng
sương đêm, nàng chẳng thèm để ý tới những dò lan treo trên giàn hay
bầy la liệt dưới đất lên tiếng:
Làm ơn cho tôi hỏi thăm...
Trong nhà, Sơn còn đang đê mê với khói thuốc lào, một thú đam mê học
được từ ngày sống trong trại cải tạo. Khi nghe giọng nói trong
thanh, chàng vội vã bước ra.
Thiếu phụ chăm chú ngắm nhìn người đàn ông trước mặt. Đầu bù, tóc
rối, hàm râu lởm chởm như cả tháng không biết đến lưỡi dao cạo. Măt
mũi lờ đờ vì còn say thuốc.. Chiếc áo nhà binh cũ kỹ, cổ và vai áo
đã sờn. Tay áo và trước ngực vài ba lổ thủng. Thân hình còm cõi
trong chiếc áo rộng thùng thình.
Anh Sơn! Có phải anh Sơn đó không?
Sơn mở to con mắt ngờ vực nhìn người thiếu phụ từ đầu tới chân. Nàng
quá sang và quá đẹp, gương mặt tuy không son phấn nhưng sáng hơn
trăng rằm, mi thanh mục tú khác hẳn với những phụ nữ quanh vùng.
Chiếc mũi dọc dừa và đôi môi mọng đỏ hồng, chiếc má phinh phính có
núm đồng tiền, lại không có vết chàm đâu có phải cô Thảo ngày xưa.
Đôi bông tai, sợi giây chuyền và chiếc nhẫn hạt soàn ở tay nói lên
vị thế của nàng. Sơn ngần ngại đáp:
- Phải tôi là Sơn! xin lỗi cô là ai?
- Trời ơi! Anh không nhận ra em sao? Em là Thảo
đây?
Thiếu phụ òa lên khóc nức nở.
- Thảo đấy ư! em...... à cô sang trong và xinh
đẹp quá làm sao tôi có thể nhận ra…
Phút giây cảm động trôi qua, mời Thảo vào trong nhà ngồi trên chiếc
ghế gỗ duy nhất bằng những cành cây ghép lại. Sơn kể lể những chuyện
đã xẩy đến cho chàng và những ngày tìm kiếm và chờ mong. Thảo cũng
cho chàng biết chiếc bớt trên má đã nhờ phẫu thuật tinh vi lấy đi từ
mấy năm nay.
Chắc hẳn anh còn nhớ, ngày 17 tháng 3 năm đó, gia đình em theo chân
đoàn quân, đoàn xe và đoàn người di tản đủ cả quân lính, gia đình và
dân chúng bồng bế nhau rùng rùng bỏ chạy theo con đường liên tỉnh lộ
7, con đường của tử thần từ Pleiku qua Cheo Reo về Tuy Hòa. Phải gọi
là con đường của tử thần vì cái chết luôn luôn rập rình kề cận,
người ta không những chết vì đói khát, chết vì pháo kích, phục kích
và truy kích mà còn chết vì giẫy đạp lên nhau để tìm đường sống.
Thật là đoạn đường kinh hồn táng đởm, xác người, xác xe, súng ống,
xe tăng, đại bác ngổn ngang khắp nơi khắp chốn.
Cuối chúng em cũng về tới Tuy Hòa nhưng nơi này đã bỏ ngỏ. Mọi người
dồn ra cửa biển, thấy một chiếc thuyền tuy đã chật ních những người
chúng em cũng nhào tới. Thuyền chạy ra khơi và sau cả tuần chịu đựng
đói khát và sóng quật gió vùi chúng em đến Vũng Tầu, nhưng chẳng bao
lâu đoàn người khốn khổ lại chen lấn xuống tầu ra biển. Một lần nữa
người ta lại xô đẩy, giầy xéo lên nhau nhưng may thay vào phút chót
gia đình em được tầu Mỹ cứu vớt và đưa tới Hoa Kỳ.
Suốt trong thời gian ở trại ty nạn và mười mấy năm chật vật sống ở
quê người không lúc nào em không tưởng nhớ tới anh. Em đã tìm anh
qua Hội Hồng Thập Tự, qua bạn bè, nhắn tin trên báo, nhờ người ở
Việt Nam thăm hỏi. Nhưng tìm anh như thể tìm chim, tìm anh cũng như
tìm chồng giữ chốn ba quân, tìm hạt cát trắng trong bãi sa mạc mênh
mông. Em đã trở về hai lần để kiếm anh, nhưng những lần trước, không
được phép lên đây, em phải thuê người lên tìm đều không thành công.
Lần này tấm lòng chung thủy của em đã được Đất Trời chứng giám. Em
muốn cùng anh rời bỏ nơi chốn đau thuơng này đến một phương trời xa
lạ. Nơi đó chẳng tuy chẳng phải là quê hương bản thổ, chẳng phải là
nơi khi xưa chúng ta đã hằng nguyện ước, nhưng nơi đó có tình người,
nơi đó có tự do. Nơi đó cảnh vật hoàn toàn khác biệt với quê nhà,
nhưng nơi đó chúng ta có thể thực hiện ý nguyện của mình. Ở nơi đó
em đã có một vườn lan cho anh. Vườn lan có đủ mầu đủ sắc có đủ cả:
Long Tu, Kim điệp, Dã hạc, Huyết nhung và có bông lan Nhất Điểm Hồng
này luôn luôn trông mong, chờ đợi anh...
Căn nhà nhỏ từ đó bị bỏ hoang, chẳng còn ai lai vãng. Xe cộ và những
ngưới qua lại chẳng ai để ý rằng nơi đây đã có một căn nhà với giàn
phong lan trước cửa.
Bốn năm sau, trên đỉnh Chu Pao một chiếc xe chạy đi, chạy lại và
dừng lại trên con đường đèo trước cửa căn nhà năm xưa. Nơi đây cây
cỏ và giây leo không tên đã phủ kín mặt tiền và bậc đá. Một thiếu
phụ bước ra khỏi xe, tay bưng một chiếc hộp nhỏ, tay dắt một bé trai
ngộ nghĩnh. Người tài xế rẽ cây vạch lá giúp cho người thiếu phụ
bước lên. Căn nhà đổ nát chỉ còn là một đám kèo cột ngổn ngang, vách
đất xiêu vẹo mục nát. Cỏ dại và những đám giây bìm bìm cùng nhãn
lồng quấn quýt lấy nhau. Thiếu phụ nước mắt lưng tròng, nhìn quanh
một vòng rồi đặt chiếc hộp trên một gộp đá. Người tài xế bước vội
xuống xe, bưng lên một mâm trái cây, hương đèn và đặc biệt nhất là
một lẵng hoa toàn những đóa lan Nhất Điểm Hồng kết lại.
Anh Sơn! Em đã làm theo ý nguyện cuối cùng của anh. Hôm nay em và
con mang anh trở về chốn cũ. Nơi mà em đã gặp anh và trở lại tìm
anh. Đây là nơi chốn mà anh yêu thương gắn bó và còn trăn trở cho
đến giây phút cuối cùng. Anh yêu quý! chúng ta không được chung sống
với nhau khi tuổi thanh xuân, chúng ta cũng chẳng được cùng nhau nắm
tay đi hết cuộc đời. Nhưng may mắn thay lời cầu nguyện của em đã
được tổ tiên phù hộ cho em tìm thấy được anh và sống với anh một
thời gian tuy quá ngắn ngủi, nhưng đền bù cho em bao mỗi nhớ thương
đã được trọn vẹn. Anh ơi! ông trời nỡ lòng nào đoản mệnh anh để cho
em phải bơ vơ nơi đất khách, em rất đau lòng. Anh ra đi để lại cho
em một nỗi nhớ thương vô hạn, nhưng may mắn thay, anh đã để lại cho
em một giòng máu. Vì đứa con này, vì giọt máu của anh em sẽ cố gắng
phấn đấu vượt qua mọi trở ngại nuôi nó nên người...
Nước mắt chan hòa, Thảo mở chiếc hộp, bốc một nắm tro soa soa vào
lòng bàn tay đưa lên khấn khứa rồi tung lên theo làn gíó thoảng.
Khói hương và tro bụi làm cho khoảng không gian trở nên mù mịt.
- Anh Sơn! Xin anh hãy yên giấc ngàn thu. Anh yêu quý! Mẹ con em xin
vĩnh biệt anh, anh ơi!.
3 giờ chiều hôm đó, chiều ngày 17 tháng 3 năm 2005, chiếc xe hơi
mang theo người thiếu phụ và đứa con nhỏ rời khỏi đèo Chu Pao, hướng
về phía Liên tỉnh lộ 7, con đường mà 30 năm trước đây, chỗ nào cũng
tràn đầy những hình ảnh kinh hoàng, thảm khốc.
Placentia 2006
BÙI XUÂN ĐÁNG
Thơ: Mạc Phương Đình
Ngày trở về
bảy tám năm giữa rừng sâu núi thẳm
ta hôm nay như con sáo sổ lồng
đường phía trước tưởng chừng xa vạn dặm
biết có còn một chỗ để về không?
mắt ngơ ngác nhìn con đường lạ lẫm
chiếc áo tù qua năm tháng bạc phai
đám cây cỏ cũng nghiêng đầu từ giã
đôi bàn chân tung những bước thật dài
đã lâu lắm không ghé về Tiên Phước
bạn bây giờ có lẽ chẳng còn ai
chiếc xe đò khặc khừ nằm nhả khói
khách trên xe thấy lạ ngẩng lên nhìn
những đôi mắt đượm nét buồn ái ngại
ta trở về, liệu còn chút niềm tin?
mấy đồng bạc trao cho người tài xế
anh cười vui "chở giúp, khỏi đưa tiền" ..
dòng xúc cảm chợt trôi về, dịu ngọt
lòng như quen, rộn rã chuyện hàn huyên
ngày ra tù, ta trở về, vậy đó
thù đưa ta đi trừng phạt, đọa đày
ta cứ tưởng tình người là dâu bể
đâu có ngờ những ấm áp hôm nay.
QLVNCH - 1968-1975
Đại đội 72,
TĐ7 ND mất tích trên chuyến bay định mệnh ngày 11 tháng
12 năm 1965
Nhảy Dù và
Cổ Thành Đinh Công Tráng
Nhân chứng lịch sử:
Mậu thân Huế
Trận KAMPONG
TRACH 1972
Tìm mộ
chiến sĩ QLVNCH tại thị xã An Lộc
Trả lại sự thật v/v
Sư Đoàn 3BB lui binh...
Thống Tướng Lê Văn
Tỵ
Tướng Đỗ Cao Trí và
Tôi
Những ngày cuối cùng của QLVNCH
Tướng Dư Quốc Đống
Dư âm Cửa Việt
Tướng NGÔ
QUANG TRƯỞNG...
Lịch sử Cảnh Sát
Quốc Gia VNCH
Người Nhái VNCH
Mùa hè đỏ lửa 1972
Không Quân
VNCH và Chiến trường An lộc
NT Nguyễn Mạnh Tường
Tưởng niệm Quốc
Hận 30 tháng 4
Bậc thầy vĩ đại
Quân Dù tiến về
thành nội Tết Mậu Thân
Một ngày với Ðô Ðốc
Chung Tấn Cang
Tr/T Huế, chiến binh
anh dũng và trung thành với Tổ Quốc
Sinh Vi Tướng, Tử Vi Thần -
Trung Tướng Dương Văn Đức
Viễn thám
Hổ Cáp - Gia đình 9 Kỵ Binh cuối
tháng tư 75
Cố Thiếu Tướng
Trương Quang Ân
Sống anh dũng, chết
nghiên ngang
Chuyến công tác cuối
cùng
Cái chết của Cố Thiếu Tá
BĐQ TRẦN ĐÌNH TỰ
Chuyện một người
chiến binh...
Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Tháng 3 buồn hiu...
Người Lính Gìà
Không Bao Giờ Chết
Thành hình của Quân Lực VNCH
Hãy thắp cho anh
một ngọn đèn
Những ngày cuối cùng của
Truờng Bộ Binh
Một chuyến đi toán phạt
Những NT Võ Khoa TQLC
Tôi nhìn đồi 31 thất thủ
Ngày tàn cuộc chiến
Tiểu Đoàn 5 Dù - Trấn
thủ Bình Long; thượng kỳ Quảng Trị
Quân trường
Những người lính bị
bỏ rơi
Tết với người lính cũ
Thái Dương - Nguyễn Văn Xanh
Phi vụ Tống Lệ Chân
Trên đỉnh Chu Pao
Trung Tá Nguyễn Văn Cư
Vài biến cố đàng
sau mặt trận Tây Nguyên 75
Trận đánh phi
trường Phụng Dực...
Sinh nhật thứ 58 - Trường
BB/TĐ
Trung Sĩ Vũ Tiến Quang
Mũ Đỏ, mũ Đen
Chân dung người Chiến Sĩ
CIA và các ông Tướng
Dựng Cờ
Bước tượng Thương Tiếc
Kẽm gai bọc thây anh
hùng
Lịch sử hình thành
QLVNCH
Văn tế Chiến Sĩ Trận
Vong
Người lính
VNCH trong mắt tôi (video)
Cà-fê nha, Chuẩn Úy?
Chân dung người
lính VNCH
Chiến thắng An Lộc 1972
Quảng Trị - Mùa hè đỏ lửa
Trương Văn Sương - Người tù
bất khuất
Chết trận Đồng Xoài
Ý nghĩa ngày QL 19/6
Viết cho ngày QL 19/6
Sự hình thành QL 19/6
Nhân ngày QL 19/6
Tâm tình ngày QL 19/6
Bối cảnh
chính trị quân sự trước 19/6
VNCH bị bức tử
Thủ Đức... gọi ta về
Chân dung người lính
VNCH
Sự thất về cái chết
của Tướng Lê Văn Hưng
Người lính không có số
quân
Giày Saut trong tử địa
Chuyện tháng 4 của những
chàng BK
Trung Tá CSQG Nguyễn
Văn Long
Những vì sao thời lửa đạn
Mùa hè đỏ lửa: Phần 1,
Phần 2,
Phần 3
Lịch sử chiến tranh VN từ
1945...
Thời chinh chiến
Tiểu Đoàn 5 Dù
Tưởng niệm Tướng Trần Văn
Hai
Vài kỷ niệm với Tướng Lê Nguyên
Vỹ
Tiểu Đoàn 42 BĐQ - Cọp Ba Đầu Rằn
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân
QLVNCH
Những người trở về
với đại gia đình dân tộc
Khe Sanh trong vòng vây
Vietnam,
Vietnam
Từ Mậu Thân 68 đến mùa hè đỏ
lửa 72...
Trận đánh Đức Huệ
Lam Sơn 207A - Khe Sanh
Trận chiến Khe Sanh
Mật trận Thượng Đức -
1974
Quốc Kỳ và Quốc
Ca Việt Nam
Cái chết trong tù
CS của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát
Sự đáng sợ cuả nước
Mỹ
Oan hồn trên xứ Huế
Sau 42 Năm, Nhìn Lại Vụ Tết Mậu Thân
Mưa Đồng Tháp Mười
Chăn gối với kẻ thù
Ông Lộc Hộ - Anh hùng vô danh
Cải cách ruộng đất...
Giờ thứ 25
Biến động miền Trung
Người Mỹ phản bội
chúng ta
cs nằm vùng
Những ngày cuối
của TT Nguyễn Văn Thiệu ở SG
Tìm hiều về hình Tiếc
Thương và Vá Cờ
Tháng Tư đen
Giờ phút hấp hối Thành
Phố Đà Nẵng
Ai giết đức thầy Huỳnh Phú
Sổ
Hình ảnh VN từ 1884-1884
Thổn thức cho VN
Valentine trong di
sản Chiến Tranh
Hoàng Hậu Nam Phương
Thảm sát ở Tân Lập
Hố chôn người ...
Tình hình nhân quyền
ở VN năm 2007
Người Việt xây thành Bắc
Kinh