Trần Văn Giang
*Để tưởng nhớ ngày 30 tháng 4 năm 1975
Lời người viết - Gần đây
truyền thông và báo chí của người Việt hải ngoại đă tốn rất nhiều
thời giờ, công sức, dài ḍng về sự vô liêm sỉ, bất xứng, trở cờ của
một số người sống đời tị nạn ở hải ngoại. Thay v́ cất công bận tâm
đến họ, chúng ta hăy dành chút ít thời giờ quí báu để nhắc nhở,
tưởng nhớ các chiến sĩ (hầu như vô danh) của tự do đă sống bất
khuất, cuối cùng đă chọn cái chết (vinh) hơn sự sống nhục. Các chiến
sĩ bất khuất như Ngô Nghĩa, Kha Tư Giáo... Bài này viết về chiến sĩ
Kha Tư Giáo theo lời thuật lại của một đồng môn với người viết. Anh
đă là bạn tù của Kha Tư Giáo kể từ ngày cùng đi tŕnh diện (để đi
gọi là “học tập cải tạo!”) tại trường đại học Kiến Trúc Sàig̣n ngày
28 tháng 5 năm 1975 cho đến khi Kha Tư Giáo chết ở Long Giao, Long
Khánh và khoảng tháng 6 năm 1976.
Kha Tư Giáo tốt nghiệp trường Khóa I Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt, nhập ngũ (khóa 9/68 Thủ Đức) và biệt phái về làm cho Kỹ Thương ngân hàng ở Sài g̣n. Năm 1975, Kha Tư Giáo khoảng độ 30 tuổi mang cấp bậc cuối cùng, trước ngày tan hàng 30/4/1975, là thiếu úy.
Kha Tư Giáo người cao ráo, trắng xanh theo kiểu nhân viên văn pḥng và có dáng dấp thư sinh tương tự như h́nh ảnh “anh chàng văn sĩ” trong trại tập trung của Đức quốc xă mà chúng ta thấy trong phim “Giờ Thứ 25” của nhà văn người Romania - C. Virgil Gheorghiu. Kha Tư Giáo là một người trầm ngâm, ít nói. Nhưng khi nói th́ rất rành mạch, đúng sách vở. Kha Tư Giáo cũng là một người bạn tốt, ṣng phẳng và sẵn sàng giúp đỡ các bạn tù khác.
Theo lệnh của Cộng Sản, Kha Tư Giáo đi tŕnh diện tại trường Đại
học Kiến Trúc Sài G̣n ngày 28 tháng 5 năm 1975. Vào đêm 28 tháng 5
năm 1975, Kha Tư Giáo và các sĩ quan VNCH khác đă tŕnh diện tại
trường Đại học Kiến Trúc Sài g̣n trong hai ngày 27 và 28 tháng 5 năm
1975 được chuyển đến “Thành Ông Năm” ở Bùi Môn, Hóc Môn bằng xe
Molotova.
Kha Tư Giáo bị giữ ở trại T2-L19 tại Bùi Môn từ ngày 28 tháng 5 năm
1975 cho đến cuối năm 1975. Anh Giáo và các tù nhân sĩ quan VNCH
được CS dùng tầu đổ bộ cũ của HQVN (HQ 504?) chở ra đảo Phú Quốc,
Dương Đông. Tất cả tù nhân đặt chân lên đảo Phú Quốc đúng vào chiều
ngày 30 Tết Bính Th́n 1976.
Thời bấy giờ, Kha Tư Giáo có một người chú ruột là Kha Tư Ân làm
Thứ Trưởng Bộ Công Nghệ Nhẹ của chính quyền CS Hà Nội. Người chú này
đă có lần viết thư cho Kha Tư Giáo nhắn nhủ là: “Cháu cứ nhận tội
(làm tay sai Mỹ, chống lại CS) th́ họ (cán bộ quản giáo - cai tù cải
tạo) sẽ cho về.” Người em ruột của Kha Tư Giáo là Kha Tư Huấn, mang
cấp bậc Trung úy, đă nghe theo lời chú nhận tội (!)như vậy, chỉ bị
tù một năm rồi được CS thả về. Kha Tư Giáo cương quyết nhất định
không bao giờ nhận bất cứ tội ǵ; mặc dù chính ngay các cán bộ quản
giáo đă nhiều lần khuyên Kha Tư Giáo cứ “nhận tội” th́ sẽ cho về. Đă
không nhận tội, Kha Tư Giáo c̣n nói với cán bộ quản giáo là:
“Tôi không có thân nhân nào làm việc với CS cả!”
Và tiếp theo là:
“Nếu thấy tôi có tội th́ cứ đem ra bắn; c̣n thấy tôi không có tội
th́ phải thả tôi ra tự do!”
Sau đây là một số tranh luận với quản giáo CS mà tôi xin ghi lại qua
lời kể của ông Nguyễn Tất Đắc (cựu KQVN), một bạn tù khác của Kha Tư
Giáo ở Thành Ông Năm:
(Trích)
... Anh Giáo người rất cao ráo khỏe mạnh, qua cặp kính trắng ra dáng
là một nhà trí thức. Sở dĩ anh Giáo đă để lại nhiều ấn tượng với tôi
v́ sau khi làm những việc lao động như mọi người, anh thường mắc cái
vơng ở một xó; rồi qua cặp kính trắng, anh nằm đăm chiêu tư lự như
không muốn nói chuyện với ai. Sau đó toàn trại đều biết đến anh v́
anh dứt khoát không bao giờ nhận có tội với “cách mạng.” Ít lâu sau,
anh Giáo được chuyển sang đội của tôi; do đó tôi và các bạn khi họp
trong đội thường xuyên được nghe anh Giáo đấu khẩu bốp chát với tên
cán bộ phụ trách khiến trên thành ủy phải đưa cán bộ thứ dữ đối
thoại tay đôi với anh Giáo. Mặc dù hai người nói chuyện ở ngay trong
pḥng, xong chúng tôi đều lảng ra chỗ khác nhưng liếc thấy anh Giáo
mặt mũi đỏ gay và cả hai người một đôi khi rất lớn tiếng với nhau
nên chúng tôi cũng đoán là tên cán bộ đó chẳng thể nào khuất phục để
anh Giáo phải nhận tội.
Đây là những lời đối thoại bốp chát trong những giờ học tập trong
đội tôi giữa anh Giáo và các tên cán bộ khiến cho chúng phải cứng
họng.
Một tên cán bộ đang thao thao đề cao những ưu việt của xă hội chủ
nghĩa th́ anh Giáo giơ tay xin phát biểu:
“Cán bộ đề cao xă hội chủ nghĩa. Chúng tôi nghe thấy khó hiểu và cao
xa quá xong thực ra chúng tôi không cần biết mà cũng không cần hiểu
làm ǵ. Dân miền nam chúng tôi chỉ đơn giản hiểu cái chủ nghĩa nào
mang lại cơm no áo ấm hạnh phúc cho người dân đó mới là chủ nghĩa ưu
việt mà thôi.”
Một lần khi lên lớp trong đội của tôi tên cán bộ nói:
“Các anh ráng học tập tốt để về chứ nhà nước đâu có cơm gạo nhiều để
nuôi các anh.”
Thấy anh Giáo giơ tay xin phát biểu. Tên cán bộ phải miễn cưỡng để
cho anh Giáo nói:
“Cách mạng bảo chúng tôi đi học 10 ngày mà cho đến nay đă mấy tháng
rồi vẫn giữ chúng tôi lại chưa cho về; nay lại nói là không có cơm
gạo để nuôi chúng tôi là làm sao?”
Tên cán bộ sửng cồ:
“Ai nói với các anh là chỉ đi học tập có 10 ngày?”
Anh Giáo:
“Một lời nói của các mạng để 99% người dân hiểu lầm vậy th́ đó là
lỗi của người dân hay của cách mạng?”
Tên cán bộ bị cứng họng mặt mũi đỏ gay tức tối.
Và đó cũng là lư do trên thành ủy đă phải cử 1 tên cán bộ xuống đấu
lư với anh Giáo và qua chuyện “có tội hay không có tội”
(hết trích)
V́ căi không lại các lư luận của Kha Tư Giáo, cán bộ quản giáo
phải mời Chính ủy của Trung đoàn xuống để “góp ư” và tranh luận với
Kha Tư Giáo. Đáng nhớ nhất trong tâm trí của các tù nhân sĩ quan
VNCH tại trại Bùi Môn là sau vụ “góp ư” của Chính ủy trung đoàn với
Kha Tư Giáo không đi đến đâu cả, một tên cán bộ quản giáo nói với
Kha Tư Giáo:
“Bây giờ tôi nói chuyện với anh như hai người ngang hàng. Anh định
nghĩa cho tôi biết thế nào là tự do?”
Kha Tư Giáo trả lời ngay:
“Anh là kẻ chiến thắng, tôi là người thua trận, không bao giờ có thể
có chuyện 'nói ngang hàng với nhau' được. C̣n anh hỏi tôi ‘định
nghĩa thế nào là tự do’ th́ tôi không định nghĩa được v́ nghĩa của
chữ tự do quá rộng. Nhưng mà khi tôi bị mất tự do là tôi biết liền.”
Tên quản giáo chỉ c̣n nước lắc đầu và bỏ đi.
Tại Phú quốc, Kha Tư Giáo bị giữ ở “nhà số 2” trong trại Cầu Sấu.
Trại này là trại cuối cùng từ Dương Đông đi vào. Trong giai đoạn này
sức khỏe của các người tù nói chung xuống dốc rất mau v́ vấn đề ăn
uống rất thiếu thốn, sự kiểm soát, kiểm thảo chặt chẽ của CS. Đây
cũng là giai đoạn mà Kha Tư Giáo phản kháng CS mạnh mẽ nhất. Kha Tư
Giáo luôn luôn tuyên bố trong các buổi học tập, kiểm thảo là ḿnh
“chẳng có tội ǵ cả” và liên tục “đề nghị” là “nếu có tội th́ cứ
việc đem ra bắn ngay!”
Trong trại tù cải tạo, CS luôn hô hào, luôn tuyên truyền khẩu
hiệu: “Lao động là vinh quang.” Một hôm, Kha Tư Giáo bị đau răng,
khai bịnh và xin nghỉ lao động nhưng cán bộ quản giáo không cho, vẫn
bắt anh đi lấy củi như mọi người. Trên đường về, anh chỉ vác một
khúc củi to bằng chiếc đ̣n gánh. Một tên bộ đội bắt anh phải đổi một
khúc cây to hơn. Kha Tư Giáo trả lời:
“Hôm nay tôi bịnh. Xin nghỉ các anh không cho; nên tôi làm như các
anh nói ‘làm theo khả năng và hưởng theo nhu cầu.’ Tôi vác khúc cây
này là đúng sức của tôi rồi.”
Tên bộ đôi nhất định bắt Kha Tư Giáo phải vác nhiều hơn, th́ anh
cũng nhất định không chịu tuân lệnh. Tên này bèn lên đạn súng AK,
chĩa súng vào người anh hăm dọa sẽ bắn nếu anh không tuân lệnh. Kha
Tư Giáo b́nh tĩnh tháo kiếng cận ra và chỉ ngón tay vào mặt của ḿnh
rồi nói với tên bộ đội:
“Anh hăy bắn vào đây này!”
Tên bộ đội giận run, chĩa súng lên trời bắn cả băng đạn AK mà không
làm ǵ được anh. Câu chuyện này được đă được dân chúng ở Cầu Sấu kể,
truyền lại cho các trại tù khác ở Dương Đông, Phú Quốc.
Kể từ hôm đó, bộ đội bắt đầu “chiếu cố” Kha Tư Giáo mạnh mẽ hơn.
Anh em trong trại tù đều biết rằng chẳng thà đi ra ngoài trại lao
động c̣n hơn bị bắt ngồi ở trong tại học tập và viết tờ nhận tội. V́
sự chống đối không ngừng của Kha Tư Giáo, cán bộ quản giáo trại bắt
tất cả tù cải tạo mỗi tháng học tập một lần để “giúp đỡ” (lời của
cán bộ quản giáo trại) Giáo ra nhận tội của ḿnh. Anh em tù ai cũng
thấy ngại cho Kha Tư Giáo. Có người nói:
“Thôi! Giáo nhận tội đại đi để được chóng thả về.”
Anh Giáo chỉ nh́n anh em tù mà không trả lời.
Lần “góp ư” cuối cùng tại Phú Quốc vào khoảng giữa tháng 5/1976.
Sau 1 tuần lễ cả trại học tập “góp ư” để khuyên Kha Tư Giáo ra nhận
tội của ḿnh, cuối cùng mọi người đều thở phào nhẹ nhơm khi thấy anh
giơ tay xin phát biểu. Sau khi đứng lên, sửa quần áo cho ngay ngắn,
chỉnh lại cặp kính cận cho thẳng thắn, anh chậm răi nói:
“Trước hết, xin cám ơn các bạn đă ‘góp ư’ cho tôi cả tuần nay; và
bây giờ tôi nhận ra là tôi có một tội (nghe đến đây, tù nhân ai cũng
thở phào v́ sẽ sớm chấm dứt cảnh học tập; c̣n tên quản giáo th́
miệng nở nụ cười chiến thắng). Cái tội của tôi là ‘Tôi đă không thể
nói cho các bạn hiểu là TÔI KHÔNG CÓ TỘI.’”
Đám tù nhân cười ồ lên. C̣n tên cán bộ quản giáo th́ đă tắt ngay nụ
cười.
Ngay sau đó, trong một cuộc kiểm soát trại, tên trại trưởng đă nói
điều ǵ đó xúc phạm đến anh, anh quay đi và nhổ nước bọt xuống đất.
Thế là anh bị đem đi biệt giam. Kha Tư Giáo bị nhốt theo kiểu chuồng
cọp (ngồi không được mà đứng cũng không được, chỉ có một cách là
nằm, nhiều lắm là co chân). Anh bị nhốt ở một chuồng kẽm gai bên
cạnh trại, trên băi đất trống trải. Phía trên chuồng có che mái sơ
sài, bốn bên trống lốc. Cát, gió và kiến lửa tha hồ ùa vào. Khí hậu
th́ ngày nóng đêm lạnh. Suốt cả đêm, anh chỉ liên tục gào thét lên
một câu trong bài hát “Đêm nguyện cầu” của Lê Minh Bằng:
“Thượng đế hỡi có thấu cho Việt Nam này...
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối!”
Kha Tư Giáo cứ la hét như thế cho đến khi khản hết tiếng tăm. Anh
cũng luôn miệng kêu khát “Nước! Nước!” Nhưng cán bộ quản giáo chỉ
cho nước khi cho anh ăn. Anh lại phản đối tuyệt thực luôn. Giai đoạn
này các trại giam ở Phú Quốc có lệnh của CS phải di chuyển tù vào
đất liền (v́ CS đang có chiến tranh với Khmer đỏ). Kha Tư Giáo đă
kiệt sức. Lúc chuyển trại, phải có bạn tù xốc nách d́u anh đi bộ
suốt 7 cây số từ trại Cầu Sấu ra bến cảng. Trên tầu HQ 403, mặc dầu
đứng không vững, nhưng anh vẫn bị c̣ng tay bằng c̣ng số 8 vào thành
tầu. C̣ng sắt hoen rỉ đă cắt da thịt của anh sát đến tận xương
trắng. Hai chân anh bị cùm bằng 2 thanh gỗ có khoét lỗ h́nh bán
nguyệt kẹp vào nhau. Tầu HQ 403 (?)đă đưa tù nhân về lại bến Tân
Cảng Sàig̣n sau 2 ngày, và cuối cùng tất cả được đưa về Long Giao
(Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh - hậu cứ và Trung tâm huấn luyện cũ của
SĐ 18BB). Khi đến Long Giao th́ Kha Tư Giáo chết v́ hoàn toàn kiệt
sức. Cuối năm 1976, gia đ́nh Kha Tư Giáo ở Sài g̣n đă có lên thăm mộ
của Kha Tư Giáo mà anh em bạn tù đă thu xếp chôn cất cho anh ở Long
Giao.
Anh Kha Tư Giáo,
Chúng tôi xin thay mặt cho những người c̣n sống sót hôm nay, thay
mặt cho những người không có được cái khí phách oai hùng bất khuất
của anh, xin thắp lên một nén hương cầu nguyện cho linh hồn anh được
ngàn thu an nghỉ. Cuộc đời vốn dĩ đă là bể khổ. Nhưng không có bể
khổ nào có thể so sánh với cái địa ngục trần gian mà CS đă và đang
dùng để đày đọa anh và dân tộc Việt Nam . Lich sử nhân loại đă nhiều
lần chứng minh là bạo lực không thể tồn tại măi được. Anh đă sống
bất khuất, đă từng khóc và cười theo mệnh nước, th́ chắc chắn anh
chết cũng linh thiêng. Xin vong linh anh hăy phù hộ cho dân tộc và
nước Việt Nam sớm thoát cảnh lầm than vô tiền khoáng hậu trong lịch
sử 4000 năm của đất nước.
Sự bất khuất của Kha Tư Giáo đă thật sự phản ảnh tinh thần:
“Đừng sợ những ǵ cộng sản làm. Hăy làm những ǵ cộng sản sợ.”
Cuối bài, như đă tŕnh bày, những chi tiết ở đây được ghi lại theo
trí nhớ của một người lính già, chắc chắn sẽ có sơ suất. Kính xin
quí vị quan tâm sửa sai và bổ khuyết thêm vào bài này để giữ ngọn
đuốc bất khuất Kha Tư Giáo tiếp tục cháy sáng, soi vào lương tâm của
các ngọn cỏ đuôi chó.
Phụ chú:
Sau đây, xin giới thiệu một bài thơ do đọc giả Nguyên P. Thúy đă gởi
đến để đóng góp với bài này:
Người Tù Không có Tội!
Kha Tư Giáo, ngươi là người có tội,
Hăy nhận đi, rồi sẽ được về nhà,
Hăy nhận ḿnh theo Mỹ hại quốc gia,
Hăy ăn năn, đảng sẽ mau ân xá.
Tôi, Thiếu úy, tuổi 30, vất vả,
Đem đời ḿnh để bảo vệ quê hương,
Chặn xâm lăng từ cơi Bắc phương,
Nơi sa trường súng gươm không nhân nhượng.
Vận nước đổi, nuốt hờn thân bại tướng,
Làm tù nhân, nào dám tưởng mai sau,
Đảng khăng khăng: tội máu với đồng bào,
Tôi cương quyết: lương tâm nào có tội!
Đảng cứ buộc th́ bắn cho đáng tội,
C̣n nếu không th́ phải thả tôi ra,
Đừng hỏi tôi ư nghĩa chữ Tự Do,
Bao la lắm, nhưng biết liền khi mất.
Những trù dập, biệt giam, học tập,
Đảng giúp tôi t́m tội của tôi,
Dù đời tôi khốn khổ, xác tả tơi,
Tôi có tội: nói không ra cái tội!
Cát, gió, kiến hành hạ, ôi nhức nhối,
Suốt cả đêm, chỉ gào thét, nguyện cầu,
Thượng Đế hỡi, ở đâu? ngài có thấu?
Con tim tôi chân chính chửa dối gian.
C̣ng sắt hoen đă cắt hết thịt da,
Trơ xương trắng, vẫn không làm nhục chí,
Mắt rực sáng, lộ anh hùng hào khí,
Địa ngục này chỉ giữ được xác phàm.
Đất Long Giao u uất mộ sơ sài,
Nhưng khí phách oai hùng luôn bất khuất,
Hồn có thiêng, xin theo phù hộ nước,
Thoát lầm than và thoát nạn Cộng nô.
Kha Tư Giáo, người tù không có tội,
Cũng có ngày người thong thả về nhà,
Đất Mẹ ôm, rũ sạch nợ quốc gia,
Trời bao la, gió gào vang “Không tội”...
Người lính VNCH
trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ
trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những gịng
sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư t́nh của
người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong
đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
T́nh Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh
"homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nh́n được
xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn
nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận
Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư t́nh
May mà có em
Thằng bé đánh giày
người Nghĩa Lộ
May mà có em đời c̣n dễ
thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba ḍng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy
Trần Văn Quí
Những xác chết trên mănh đất
chữ "S"
Thân phận người
lính găy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia
Trung ...
Những mảnh đời dang dở
- phần 2,
phần 3,
phần 4,
phần 5,
phần 6,
phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng
không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời
chinh chiến
Vược ngục
Chuyện t́nh khoai lang
Tâm t́nh
người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực
19-6-73
Vinh danh người lính
VNCH
Khi con
đường không lối thoát
Những
bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái t́nh
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ c̣n một ngày
để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng
Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một ḿnh
Hăy bế em ra khỏi cuộc
đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan
Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh
Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Ḥa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc t́nh
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nh́n những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
V́ hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Ngh́n trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời c̣n vui v́ có
chút ṭm tem
Đôi mắt Phượng
Ngựi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
T́nh già
Buổi chiều ở Thị
trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân t́nh
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông
bạn già năm xưa -
English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài ṿng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
T́nh người
Hồi kư của một người Hà
Nội
T́nh nghĩa, nghĩa t́nh
Đôi đũa
Gịng đời... và hồi âm
gịng đời...
Không cho phép ḿnh
quên
Thảm sát trên đảo
Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không
đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
T́nh ngây dại
Để nhớ để quên