Tự truyện của một phi công

Thân mến tặng các chiến sĩ Lôi Hổ của Chiến Đoàn III Xung Kích Nha Kỹ Thuật, để cùng nhau tưởng nhớ đến một buổi chiều Tây Nguyên rực nắng quê ḿnh...

Trường Sơn Lê Xuân Nhị.

Trước khi vào truyện:

Bài này tôi viết vào ngày Quân lực năm 1989, cách đây 23 năm, lúc tôi mới tập tểnh cầm bút, đăng trên Tập San Ngàn Sao của anh em Không Quân Houston. Xin cám ơn Hắc Ưng 01, tức Trung Tá Nguyễn Tiến Thành, (C̣n được anh em âu yếm gọi là Thành... dâm--thời buổi này, ai nói ḿnh dâm là một lời khen quư giá vô cùng) một phi đoàn trưởng F-5, một nhà thơ, một ... con người đầy t́nh cảm đă cho tôi lại bài này sau nhiều năm thất lạc. Nếu ai chưa đọc, xin đọc. Nếu ai đă đọc rồi, đọc lại cũng chẳng sao. Điếu quan trọng ở đây, tâm hồn tôi ngày đó như thế nào th́ bây giờ cũng như thế thôi...

Ai biết đời đổi thay, sẽ không bao giờ thay đổi
Ai tưởng rằng đời không thay đổi, người đó thế nào cũng đổi thay...


Sau mười mấy năm di tản, tôi đă được đọc hơn chục câu chuyện viết về cuộc đời binh nghiệp của nhiều người. Chuyện nào cũng hay, cũng có nhiều kỹ niệm, nhiều hào hùng. Riêng tôi, nhớ lại quăng đời binh nghiệp dang dở của ḿnh, dù có chủ quan đến đâu, tôi cũng thấy hơi... mắc cỡ. Kể từ ngày ṿng tay giă từ bố mẹ đi đăng lính cho đến ngày leo lên tàu bay... “chạy thấy mẹ”, đời lính tôi chẳng có đoạn nào hào hùng đáng để viết ra đây cho độc giả thưởng thức. Lư do đơn giản v́ tôi là phi công lái tàu bay L-19. Nếu là phi công khu trục hay trực thăng, có lẽ tôi cũng đă có nhiều kỹ niệm ghê gớm hơn đáng được kể lại cho thiên hạ nghe như lúc cắm tàu bay xuống giữa rừng pḥng không để thả những trái bom xuống đầu địch, hoặc lái trực thăng xông pha lửa đạn đến để thả quân, bốc thương binh ở những vùng địa đầu giới tuyến vân vân. Tàu bay L-19 của tôi, thân h́nh ẻo lả chậm chạp, thường bị người ta gọi là Tàu Bay Bà Già, được dùng để thám thính và đánh trái khói chỉ điểm mục tiêu. Thám thính hay quan sát th́ bay cao bay thấp ǵ cũng được, chẳng ai cần để ư. Mới ra trường v́ “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên tôi c̣n hăng lắm, trận thám sát nào cũng bay thấp gần ngọn cây. Nhưng già hơn một chút nữa th́ cái bu-gi của tôi nó cứ từ từ teo lại như bị mắc phải một chứng bịnh quái ác, và cao độ quan sát càng ngày tăng theo tỉ lệ nghịch của... con chim để tránh bớt pḥng không. Gần đến ngày mất nước th́ nó cao lắm, tôi không nhớ là mấy ngàn bộ.

Tôi không thệ tự dối ḷng ḿnh và dối thiên hạ để bảo rằng ngày xưa tôi là một chiến sĩ oai hùng lắm, anh dũng lắm. Đời tôi đă hèn một lần ngày 30 tháng 4, tôi chẳng thể hèn thêm nữa. Nói láo, đối với tôi là một hành động hèn nhát. Tôi nhớ đă đọc được ở đâu đó rằng một trong những đức tính quan trọng nhất của người Vơ sĩ đạo Nhật Bản là không bao giờ nói dối. V́ vậy, tôi đành thành thực mà viết rằng suốt mấy năm mặc áo nhà binh ăn cơm chính phủ, những đoạn đáng nhớ nhất về cuộc đời binh nghiệp của tôi có thể viết ra đây cho độc giả thưởng thức là mấy lần ... đi ở tù.

Đời lính ngắn ngủi của tôi, kính thưa quí vị, tôi bị ở tù trước sau là 4 lần. Tôi nói ngắn ngủi bởi v́ tôi đi lính năm 69, đến năm 75 th́ quân đội tan hàng, tính ra là gần được 6 năm. 6 năm lính mà ở tù 4 lần, và mỗi lần một hai ngày là quá ít, nhưng đối với một thằng nhớ dai như tôi, mỗi lần như thế là một kỹ niệm. 4 lần ở tù, bây giờ ngồi nghĩ lại sau mười mấy năm, tôi chả thấy oan ức chút nào. Tôi công nhận lần ủ tờ nào cũng là do lỗi ḿnh mà ra cả, rất đáng bị nhốt để duy tŕ kỹ luật quân đội và tốp bớt cái tính du côn hung hản của thằng thiếu úy trẻ. Đôi khi, tôi cảm thấy kỹ luật của quân đội đới với tôi như vậy c̣n là nhẹ h́u, nhẹ lắm.

Nhưng trong 4 lần ở tù này, chỉ có một lần cuối cùng là tôi leo lên xe quân cảnh mà ḷng sung sướng hănh diện đến độ có thể nói như ông Gandhi của Ấn Độ. “Đi vào tù mà vui tươi sung sướng như chú rể đi vào nơi động pḥng ngày đám cưới.” Trước khi kể đến lần đi tù kỳ lạ này, tôi xin bắt đầu từ những lần ở tù đầu tiên...

Từ thuở nhỏ, tôi vốn là một thằng... chẳng giống ai. Lúc c̣n đi học ở tiểu học, lên đến trung học, tôi luôn luôn gây rắc rối cho thầy giáo, cho cha mẹ. Ở trường, thay v́ phải lo dùi mài kinh sử để đáp đền ơn dưỡng dục của song thân, tôi chỉ thích nghiên cứu tổ chức lập đảng để đi oánh nhau. Về nhà, đă chẳng giúp ǵ được công việc gia đ́nh, tôi lại ăn hiếp các em, thỉnh thoảng c̣n “đỡ nhẹ” một ít tiền của mẹ để tiêu hoang. Quá khứ gian ác như vậy, vào lính, chả trách ǵ chỉ một thời gian ngắn là tôi phải ôm mền chiếu đi ngồi tù.

Tôi được nếm mùi tù lần đầu tiên leiền chỉ sau khi khoác áo nhà binh mấy tháng ở trường bộ binh Thủ Đức. Một tối nọ trung đội tôi có nhiệm vụ đi gác uyến. Phiên gác của tôi được anh em cắt là 3 giờ sáng. Đem mùng mền khăn gói theo trung đội ra tuyến, căng lều vơng xong lúc ấy mới có 9 giờ đêm. Không có chuyện ǵ làm, thay v́ đắp chăn nằm ngủ lấy sức như những người anh em ngoan ngoản khác, tôi và vài thằng bạn trời đánh rủ nhau phú lỉnh ra khu gia binh ăn hột vịt lộn. Hột vịt lộn, muốn thưởng thức cho đúng điệu th́ phải có ba thứ đi kèm: thứ nhất muối tiêu, thứ nh́ rau răm và chót hết là... la de. Cái món sau cùng này nó đă hại tôi bởi khi đứng dậy đi về, trời đă quá nửa đêm, bước chân tôi xiêu vẹo lạng quạng, đi nghiêng ngă như... một thằng say rượu. Nói đúng hơn, tôi đă “xỉn mẹ nó rồi”. Ṃ mẫm măi chúng tôi mới về đến nơi cắm trại. Vào tới lều th́ tôi chẳng c̣n biết trời trăng ǵ nữa, nằm lăn quay ra đánh một giấc.

Hai giờ rưỡi sáng tôi bị một người khóa sinh đánh thức giậy để đổi gác. Gác gỏng ǵ nữa v́ tôi lúc ấy chỉ c̣n là một khúc gỗ, có đem thẩy tôi vào lửa thôi cũng cóc cần, làm sao tôi thức dậy được? Anh khóa sinh này sau 10 phút không kêu tôi được, lại lui cui thế nào đễ lănh phải một bốt đờ sô của tôi té lăn cù, bèn tức ḿnh đi báo cho trung đội trưởng. Trung đội trưởng khôn hơn, biết tính tôi nên chẳng thèm gọi nữa, liền đi thông báo sĩ quan cán bộ trực. Ông trung úy Ba (tôi nhớ rơ tên), có lẽ bị mất giấc ngủ v́ một chuyện không đâu, hầm hầm xách cây Carbine M-2 chạy ra tuyến kiếm tôi. Sau hai tiếng kêu không có kết quả, người sĩ quan cán bộ không thèm phí th́ giờ, ông ta nhờ... báng súng Carbine kêu dùm. Bị giộng mấy cái đau điếng, tôi ḷm c̣m ḅ dậy. Trung úy Ba xài xể tôi một thôi rồi bắt tôi ôm súng ra tuyến gác. Để trừng phạt, ông bắt tôi phải gác thế cho cho tất cả những người khác tới sáng.

Tôi ôm cây M-16 ra pḥng tuyến, quên cả hỏi mật khẩu và mấy thứ lẩm cẩm khác của người lính gác giặc. Đứng được khoảng 15 phút th́ tôi không c̣n chịu nổi nữa, cơn buồn ngủ kéo tới, tôi rớt một cái rầm xuống đám cỏ. Ôi, đất ơi là đất, sao mà êm ái và dịu dàng thế này, tôi nhắm mắt nằm ngủ thẳng cẳng.

Không biết tôi ngủ được bao nhiêu lâu th́ trung úy Ba lại đi thanh tra. Lần này ông cho người dắt tôi thẳng về đồn quân cảnh. Lúc tỉnh dậy, đầu óc choáng váng, tôi nh́n thấy vừng Thái Dương đă ló dạng qua khung cửa sổ có mấy song sắt của nhà thù. Sáng hôm đó là ngày chủ nhật, ngày thăm viếng. Không biết hên hay xui cho tôi, ngàn năm một thuở, ngày ấy tôi có người đến thăm. Nhà tôi ở rất xa, măi trên cùng cao nguyên đất đỏ, xuân thu nhị kỳ mới c̣ người đến kiếm, nay thằng em kế của tôi lên thăm ông anh quư th́ hóa ra ông ấy đang ủ tờ. Thật là chán đời. Hai anh em gặp nhau trong một tiếng đồng hồ ngắn ngủi. Tôi dặn nó về đừng có nói là lên thăm gặp tôi đang ủ tờ, sợ cha mẹ phiền. Nó cười cười, dạy khôn tôi: “Anh là cùi mà cớ sợ hủi. Đi lính mà không ở tù lính th́ làm sao đáng gọi là lính?” Tôi ầm ừ và cũng đành dùng câu nói của thằng em quư để tự an ủi ḷng ḿnh.

Chiều hôm ấy tôi được thả ra nhưng đă tiêu hết ngày chủ nhật quư giá của quân trường.

Lần ủ tờ thứ hai, khoảng 2 năm sau, lúc ấy tôi đă đeo lon thiếu úy tàu bay, vừa tốt nghiệp xong khóa hoa tiêu và đang được huấn luyện hành quân ở phi đoàn. Đó là những ngày nhàn nhă. Mục đích của thời gian huấn luyện này là tập cho phi công trẻ có dịp làm quen với chiếc phi cơ L-19 càng nhiều càng tốt nên chúng tôi nhận được lệnh của phi đoàn trưởng phải bay ít nhất 6 giờ mỗi ngày. Ǵ chớ bay bổng và nhậu nhẹt là hai chuyện tôi thích nhất trong cơi đời. Ngày nào tôi cũng vào phi đoàn, kư sổ phi lệnh rồi xách một chiếc L-19 cất cánh lang thang một ḿnh trong không gian bát ngát. Khỏi cần nói chắc quí vị cũng có thể tưởng tượng được một thằng trời đánh như tôi sẽ làm ǵ trên trời một ḿnh mới món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ? Tôi nhào, tôi lộn, tôi bay nghiêng bay ngă, tôi hành hạ chiếc L-19 đáng thương như đứa bé con tinh nghịch đủa giỡn với món đồ chơi cũ. Đùa chán chê, tôi xách tàu ra ngoài biền đi phá đám mấy ông thuyền chài. Thấy được một chiếc ghe nào lạc lỏng một ḿnh là tôi cắt ga biểu diễn màn bay sát mặt nước, nhắm thẳng vào chiếc ghe lao tới như các Kamikaze Nhật trong xi nê. Khi nào người ngồi trên ghe chưa chịu... nhảy xuống biển là tôi chưa thoả măn, quay tàu lại làm ṿng khác thấp hơn, thấp hơn nữa. Tôi không nhớ đă thoát chết bao nhiêu lần và đă làm không biết bao nhiêu người thuyền chài vô tội sợ hú hồn, phải nhảy tùm xuống biển.

Những hôm khác, tôi xách tàu đi xa hơn. Có khi c̣n lên Khánh Dương, bay dọc theo mấy ḍng suối để t́m con gái Thượng tắm. Tôi ở Ban Mê Thuột nên biết đàn bà thiều số thường tắm truồng. Tôi chả bao giờ t́m thấy ai tắm nhưng cũng xém chết mấy lần v́ tàu gần đụng núi.

Đấy, tôi gian ác như vậy nhưng vẫn chưa bị vào tù v́ không ai biết chuyện tôi làm cả. Nhưng thiên bất dung gian, một ngày nọ, vào khoảng giữa trưa, tôi xách nón bay ra quay máy một chiếc L-19 để bay tập. Tôi nhớ rơ hom ấy là ngày thứ sáu và lại vào giấc trưa nên phi trường vắng vẻ vô cùng. Phi đoàn cũng vắng tanh. Tuy ở phi đoàn chưa lâu lắm nhưng tôi biết chiều thứ sáu “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm” được. Thử máy xong, tôi đem ràu ra so hàng ở taxiway rồi xin đài kiểm soát ra phi đạo cất cánh.

Đài kiểm soát vừa “Clear for take off” là chiếc L-19... già đă bị tôi tống ga cái rào. Con tàu như nhảy dựt người lên, lóc cóc chở ông thiếu úy cô hồn ra so hàng cuối phi đạo mau như bị ma đuổi. Tôi tống hết ga. Con tàu gầm lên, nhào tới trước. Cái giây phút thú vị nhất của bất cứ người phi công nào là lúc điều khiển con tàu chạy mau trên mặt đắt trước khi cất cánh. Sự khác biệt giữa người và chim, giữa mặt đất tù túng giới hạn và không gian bao la bát ngát , giữa nguy hiểm và an toàn, giữa sống và chết là những giây đồng hồ ngắn ngủi này đây.

Tàu tăng tốc độ, phi cơ “ăn no gió” chuyền áp lực vào cần lái làm tay tôi bắt đầu cảm thấy nặng. Khỏi cần nh́n tốc kế tôi cũng biết là chỉ cần kéo nhẹ cần lái là tàu sẽ rời mặt đất từ từ bay bổng lên không. Đó là kiểu cất cánh b́nh thường. Nhưng đời tôi, ít khi nào tôi làm chuyện ǵ b́nh thường và giống thiên hạ. Thay v́ kéo tàu lên, tôi lại hơi đè cần lái xuống cho tàu nhỏng đít chạy thằng trên phi đạo. Cất cánh như vậy coi nó mới giống Skyraider, nó mới hùng, mới đúng điệu “Pilot de Guerre.” (Tôi thường bảo bạn bè rằng, nếu là mây, anh sẽ là loài mây trắng, nêu là người, anh sẽ chết cho quê hương, nếu là phi công, anh chỉ nên lái Skyraider...) Tôi cứ ráng giữ như vậy cho đến lúc không thể nào đèn phi cơ trên mặt đất nữa, mới hơi nới cần lái cho tàu bay lên.
Lần đó, tàu vừa hỏng mặt đất là tôi có một ư tưởng mới lạ. (Suốt đời tôi khốn nạn v́ những ư tưởng mới lạ của ḿnh). Bay bổng ngon lành như tôi, tại sao không làm một cái Chandel (đọc là Xăng Đeo) ở cuối phi đạo? Xin dành một vài hàng để tôi cắt nghĩa cái Chandel cho các quí vị không phải là dân bay hiểu.

Làm Chandel tức là làm một cái quẹo ngược 180 độ lên cao về phía sau. Tác diễn này giúp cho các phi công khi gặp phải chướng ngại vật phía trước có thể quẹo ngược ra sau một cách chính xác để khỏi mất hướng và vừa lấy thêm được cao độ. Muốn làm Chandel, người ta mới đầu chúi mũi phi cơ để lấy thêm tốc độ rồi vừa nghiêng vừa quẹo và vừa kéo tàu lên một lượt. Tay và chân phải ḥa hợp và ăn khớp với nhau như biểu diễn một điệu nhảy đầm. Cái Chandel tuyệt hảo đặt con tàu đúng 180 độ ở cuối đường, không hơn không kém. Điểm quan trọng cần nói thêm, Chandel là một tác diễn chỉ được làm ở một độ cao tương đối, làm ở sát mặt đất lúc vừa cất cánh là một điều tối kỵ vị rất nguy hiểm và vi phạm luật an phi nặng nề.

Lúc ấy tôi nào có biết ǵ là nguy hiểm, cứ cho đó là một ư kiến hay. Nhưng trước khi liều mạng như vậy, vốn gian ác nên tôi tính toán cẩn thận. Tôi phải chắc chắn là không có ai ở phi đoàn giờ này th́ mới an toàn. Thế là tôi tà tà cho tàu bay lên, quẹo phải hơn ngắn một chút và để ư nh́n xuống phía phi đoàn. Good. Băi đậu xe của phi đoàn vắng tanh. Phi đoàn tôi lúc ấy có 3 người tôi ngán nhất là phi đoàn trưởng, phi đoàn phó và trưởng pḥng hành quân, ông nào cũng có một chiếc xe. Tôi mừng thầm, thế này chắc là các đàn anh đă về nhà ngủ rồi hay không chừng đang chở vợ con đi tắm biền cũng nên. Riêng thiếu tá Bững trưởng pḥng hành quân h́ chắc đang đụng trận phé lớn ở một chỗ nào đó. Tôi ngán nhất là ông thần này, phi công ǵ mà mặt mày coi hung dữ chi lạ, c̣n ngầy hơn cả tôi, ḍm cứ như là phi công Nhật. Cho chắc ăn hơn, tôi nh́n xuống băi đậu xe của Không Đoàn. Chiếc xe díp xanh của đại tá Lạc không đoàn trưởng cũng thấy mất tiêu. Tôi mỉm cười khoái chí. Vậy là nhô con có thể múa rối được rồi.

Tôi làm ṿng phi đạo xin tập đáp “Chạm Bánh cất cánh” (touch and go). Trưa thứ sáu, phi trường Nha Trang vắng khách nên các ông đài kiểm soát xem ra cũng có vẻ dễ dăi, chà bù với những lúc bận rộn, mấy ông hối nhặng cả lên. Vừa đáp xuống là tôi tống hết ga để chuẩn bị cất cánh lại. Phi cơ hổng khỏi mặt đất, tốc độ lên rất cao, có thể đến 140 Knots (quá giới hạn của L-19) là tôi trổ tài. Tôi nghiêng cánh, vừa quẹo trái vừa đạp bàn đạp trái và kéo cần lái lên. Con tàu bốc cao như một cái hơa tiễn, người tôi bị lực G đề xuống. G càng lớn th́ tôi càng cảm thấy đê mê khoái tỉ, tưởng tượng như ḿnh đang kéo một chiếc Skyraider bay lên. Thật không thể có cái Chandel nào đẹp hơn cái Chandel vừa rồi của tôi trên thế giới này. Chao ơi, sao mà nó sướng, sao mà nó đă, sao mà nó thú, không bút mực nào tả cho hết được. Bay như thế mới gọi là bay, mới là hào hùng, mới là xứng đáng là “Ôi phi công ... danh tiếng muôn đời...”
Quẹo xong tôi theo mửng cữ soạn lại, tiếp tục vào đáp và làm thêm mấy cái Chandel nữa. Tôi cảm thấy lúc ấy tôi không c̣n là một người phi công mới ra trường với số giờ bay chưa tới ba trăm, mà là một anh hùng của KQVN. Giá có thằng Việt Cộng nào ngu dốt đi lạc vào phi trường th́ tôi sẽ ủi cho nó xịt khói ra quần cho chúng nó biết tay người phi công trẻ này. Tôi cảm thấy phục tôi quá chừng.

Ở ṿng đáp thứ bảy, đang biểu diễn ngon lành th́ tự nhiên có tiếng gọi của đài kiểm soát phi trường trong nón bay:
-Mustang Alpha đây Nha Trang đài.
-Nha Trang, Mustang Alpha nghe năm.
-Có điện thoại từ phi đoàn gọi bạn về đáp gấp và vào tŕnh diện phi đoàn trưởng. Mustang Alpha nghe rơ không bạn?
Tôi như muốn té xỉu trong tàu bay. Thế này là tàn một đời phi công vô kỷ luật. Phi Đoàn Trưởng rôi, tôi c̣n lạ ǵ? Ông ta là một hung thần xuất thân khóa 17 Đà lạt. B́nh thường gặp ông ta không có tội lỗi ǵ mà đă thấy ngán, bây giờ giữa trưa vắng vẻ như thế này không lư ông ấy gội tôi vể tŕnh diện để kể chuyện đời xưa? Liếc mắt thật nhanh về phía phi đoàn, tôi mới biết là cuộc đời gian ác của tôi sắp sửa bế mạc thật. Rơ ràng là chiếc xe díp đen của ông ấy đang nằm “ch́nh ́nh” ngay trước cửa phi đoàn. Lúc ấy tôi mới hiểu rơ cái chữ “teo bu gi” mà thiên hạ thường dùng để chỉ những phút giây con người sợ văi đái ra quần nó như thế nào. Thê thảm lắm.

Đang c̣n chới với th́ đài kiểm soát phang tiếp cho một chưởng:
-Mustan Alpha nhận rơ không bạn?
Tôi... mếu máo:
-Mustang Alpha nhận năm bạn.

Con đường từ phi đạo về đến băi đâu phi cơ sao mà ngắn quá, tôi cứ mong cho nó dài ra, đừng bao giờ hết để tôi khỏi gặp phi đoàn trưởng tôi. Nhưng rồi cái giây phút kinh khủng ấy đă sắp phải đến. Tôi cặp nón bay lủi thủi bước vào phi đoàn ủ rủ như con chuột ướt, như một đứa con hoang trở về nhà cũ để nhận lănh h́nh phạt sau đă phung phí hết tiền của. Tôi ngạc nhiên khi thấy phi đoàn lúc ấy đă có mặt đầy đủ văn vơ bá quan. Ông thiếu tá phi đoàn trưởng đang chờ tôi trong văn pḥng phía sau. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nh́n thấy ai cũng nh́n tôi bằng một cặp mắt thương hại. Chắc họ đă đoán được cơn thịnh nộ sắp sửa dành cho tôi.

Sĩ quan trực ngày hôm đó là thiếu úy Hầu Văn Thùy Dương. Nó là một thằng tôi luôn luôn cho là cù lần cả quỷnh nhưng hôm nay tôi thấy thèm được cù lần như nó quá. Nó nh́n tôi rồi bám máy interphone báo cáo:
-Tŕnh thiếu tá, thiếu úy Nhị vừa vào. (Ông Tám lúc ấy c̣n mang lon thiếu tá)
-Anh gọi nó vào đây.
Tôi sửa sang quân phục, vuốt lại tóc tai. Thằng Dương bụm miệng kề tai tôi nói nhỏ:
-Số mày xui quá, thường thường giờ này ổng đâu có vô phi đoàn làm ǵ. Ổng để quên cái ǵ đó rồi chạy vào lấy là gặp ngay. Làm sao mà dấu được, tụi tao cũng chạy ra xem. Mày làm náo động cả phi trường Nha Trang. Ai bảo ngu ráng chịu. ĐM mày chuẩn bị 2 lỗ tai để nghe “mô ran” đi. Nhiều lắm là 2 tiếng và ít nhất là một tiếng. Xong phần “mô ran” là phần đi ủ tờ.

Nói xong nó lắc đầu nh́n tôi cười mỉm nửa như thương hại, nửa như thán phục. Tôi không nói ǵ. Tôi ngu thật, đúng như lời thằng Dương nói. Trong trạng huống này, tôi cảm thấy tôi ngu hơn cả con kiến.

Bước qua chỗ Lư Bững, ông trưởng pḥng hành quân c̣n chơi nhẹ một câu:
-Bổ hết chỗ biểu diễn rồi hay sao mà về Nha Trang biểu diễn mày, làm như ở đây không có tàu bay chắc? Người th́ nhỏ một chút mà sao bay bổng dữ dằn quá chừng...
Ông Tám là một con người cẩn thận. Mặc dù tội lỗi của tôi đă rành rành như vậy nhưng ông c̣n muốn xác nhận lại xem thử tôi vô t́nh hay cố ư mà “bay bổng kiểu ǵ kỳ quặc” vậy? Tôi thú nhận là tô đă làm Chandel ở cuối đầu phi đạo.
Thế là cơn thịnh nộ của ông thiếu tá giáng xuống. Suốt gần một tiếng đồng hồ, ông phi đoàn trưởng trẻ tuổi khi la hét, khi nhỏ nhẹ, lúc khác đập tay th́nh th́nh xuống mặt bàn để cắt nghĩa cho tôi hiểu về bổn phận và trách nhiệm của một phi công trong thời chiến. Tôi không hiểu cái vụ Chandel của tôi vừa rồi nó có liên hệ ǵ về quốc hội Hoa Kỳ và tiền viện trợ như thế nào và đôi khi tôi cũng nghe được hai tiếng này. Thỉnh thoảng tôi lại c̣n nghe được danh từ “phản quốc” và “phá hoại” mới chết chứ. V́ đă chuẩn bị... hai lỗ tai trước khi vào đây cho nên tôi không lấy ǵ làm khó chịu lắm. Thằng nào đi lính một thời gian rồi cũng học được cái nước tịnh khẩu này. Cứ để cho đàn anh chửi rủa cho hả cơn tức, tới một lúc nào đó đàn anh sẽ mỏi miệng rồi sẽ tốp lại. Sau đó ḿnh sẽ đứng lên chào cái cốp rồi bước ra...

Nhưng tôi bỗng tỉnh hẳn người và cảm thấy quặn đau trong ḷng như ai đâm vào đó một con dao khi ông phi đoàn trưởng chê cái Chandel của tôi:
-Anh nói anh làm Chandel hả? Chandel cái con khỉ ǵ. Tôi chưa thấy cái Chandel nào sai nguyên tắc, vụng về và xấu xí như cái Chandel của anh. Đó là “Xăng đan” của ba tàu Chợ Lớn chứ “Xăng đeo” ǵ.

Than ôi, nếu biết tôi bay dở như vậy th́ th́ tôi đâu thèm biểu diễn làm ǵ để ra nông nổi này. Tôi không buồn bao nhiêu v́ sắp đi ủ tờ nhưng tôi đau đớn v́ khả năng bay bổng của ḿnh bị đánh giá tệ quá. Trong giây phút buồn phiền thất vọng, tôi chợt bi quan nghĩ rằng hay trời sinh ḿnh ra chỉ để lái tới xe ... GMC là hết cỡ, sao lại lái tàu bay để chuốc lấy họa?

Tôi không nhớ ḿnh ngồi đó thêm bao lâu nữa nhưng khi leo lên xe Quân Cảnh đi về Cải Hối Thất th́ trời chiều đă bớt nắng. Tối đó, thay v́ ăn chơi nhậu nhẹt với bạn bè, tôi phải nằm trong tù nh́n mấy con muỗi làm ... Chandel trong mùng tôi. Xem chừng bọn muỗi đói này làm Chandel hay hơn thiếu úy Nhị trưa này nhiều v́ đă mấy lần tôi đưa tay định vỗ th́ chúng đă lượn một ṿng tuyệt đẹp, bay ngược ra sau rồi biến mất. Vồ hụt muỗi mấy lần, tôi phát cáu chửi thề: “Tiên sư chúng mày, học ở đâu mà làm Chandel đẹp quá thể, ông mà bắt được th́ ông nghiền nát chúng mày ra cho tan đời muỗi...” Có thể nói, mỗi một con muỗi là một Fighter Pilot chính hiệu. Tuy tức tối nhưng tôi phục chúng nó.

Tôi đốt thuốc lá liên miên và tuy nằm trong một chỗ gọi là Cải Hối Thất, tôi chẳng thấy muốn hối cải chút nào hết. Chẳng những không biết hối cải, tôi c̣n tự rút ưu khuyết điểm để lần sau, nếu tôi có hành động gian ác nữa ht́ không ai có thể bắt được. Tôi lại nghĩ về cái Chandel ... quê mùa và bực tức sự ngu dốt của ḿnh. Đúng là có mắt như mù.

Ông Tám chỉ cho tôi nằm xả hơi đến sáng thứ hai th́ gởi sĩ quan trực xách xe đến đón tôi về. “Ở tù ra” tôi đâm khôn, làm ǵ cũng ngó trước tính sau, nhất định không để sơ xẩy như lần đầu nữa.

Rồi tôi cũng được tha cho đi bay hành quân. Trước khi đi biệt phái lần đầu tiên, tôi được phi đoàn trưởng gọi vào tŕnh diện. Một lần nữa, tôi chuẩn bị 2 cái lỗ tai để nghe “mô-ran” nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy ông Tám ỏ ra thân mật với tôi. Tôi c̣n được mời hút thuốc lá 3 con 5 mới là ly kỳ. Ông phi đoàn trưởng tâm sự với tôi một câu mà tôi không thể nào quên được:
-Tôi biết anh là một con người ba gai nhưng anh có tâm hồn và tài năng. Tôi sẽ huấn luyện để anh trở thành một cán bộ nồng cốt của phi đoàn. Phần anh, anh phải cố gắng, đừng cậy ḿnh có tài mà bê bối. Anh phải luôn luôn ghi nhớ ḿnh là một sĩ quan của QLVNCH, phải giữ ǵn tư cách và tác phong.

Kể từ ngay đi lính đến giờ đó là gần 3 năm, tôi luôn luôn bị nghe chửi, đây là lần đầu tiên tôi được khen là “có tâm hồn và tài năng” nên rất lấy làm sung sướng. Sẵn trớn, tôi muốn hỏi xem cái Chandel tôi làm ngày nào có quả thực là xấu xí và quê mua không nhưng tôi tốp lại kịp thời. Không nên nham nhở với phi đoàn trưởng quá, để rồi từ từ hỏi sau cũng được...

Rồi tôi nhận phi vụ lệnh sách tàu đi biệt phái ở một chiến trường hung hản nhất của vùng II chiến thuật lúc đó: Chiến trường Tam Biên Pleiku-Kontum. Giặc vừa mở một loạt tấn công khắp các nơi để mở màn cho một trong những mùa hè tang tóc và kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà nhà văn Phan Nhật Nam gọi là “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Tôi c̣n nhớ trong bay từ Nha Trang đến Pleiku lần đầu tiên ấy, lêo lên 8 ngàn 500 bộ, trên tôi là mây, dưới chân tôi là đồi núi trùng trùng điệp điệp. Phong cảnh hùng vĩ và tươi đẹp của quê hương lúc trời rạng đông làm cho ḷng tôi dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Trong một thoáng, tôi cảm thấy ḿnh không c̣n là một phi công vô kỷ luật nữa mà trở nên trầm lặng như một nhà hiền triết. Sau bao nhiêu tháng ngày học tập, đây là lúc tôi có thể thi thố tài năng để đền ơn cho tổ quốc. Tôi lại cảm thấy tôi mang nợ với đất nước này nhiều quá. Lúc nhỏ, tôi mang nợ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lớn lên tôi mang nợ công ơn giáo dục của thầy. Vào lính hơn 2 năm qua, tôi chỉ cắp sách và nón đi học để trở thành một phi công. Giữa lúc mà những người cùng tuôi tôi phải nằm gai nếm mật, vượt rừng lội suối, đem máu đào ra ǵn giữ từng con đường từng tấc đất của quê hương th́ tôi suốt ngày hết bay lên rồi lại bay xuống. Tôi tự nguyện với ḷng ḿnh là sẽ sử dụng hết khả năng ḿnh để làm việc đền ơn cho tổ quốc.

Bạn có bao giờ đưa cho một đứa con nít một cây súng thiệt rồi bảo nó đi săn với bạn chưa? Khổ sở lắm, v́ đứa con nít đó luôn luôn hăng tiết vịt, gặp cái ǵ cũng muốn bắn phá, rồi hết cḥng ghệo người này lại đến phá phách người khác. Thằng con nít c̣n đỡ hơn là tôi, một phi công trẻ với món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ. Chỉ vài ngày sau thôi là điện thoại gọi tới tấp về phi đoàn để báo cáo và than phiền về những hành vi vô kỷ luật của tôi trên trời. Lúc ấy ở chiến trường, tôi nào co biết sợ là ǵ? Vùng pḥng không đan kín trời ai cũng né th́ tôi lài lù lù dẫn xác vô bằng một cao độ mà AK bắn chắc cũng rớt. Tôi nghĩ bọn xạ thủ Việt Cộng phải bắn giở lắm v́ tôi chẳng hề bị ǵ cả. Chẳng phải là tôi gan dạ hay ngon lành ǵ, chẳng qua chỉ v́ chưa biết nên chưa sợ đó thôi. Đâu đă hết, nhiều lúc tôi c̣n đi lạc vào vùng có tác xạ pháo binh đang TOT (Pháo tập trung bắn từ nhiều nơi đến một chỗ, một lần) của hàng trăm khẩu vừa Tây vừa Ta. Tôi nào có biết. Đến khi nh́n thấy hàng trăm đóa hoa đất tự dưng nở tung tóe ngay dưới chân ḿnh th́ mới giật nẩy ḿnh lên, hốt hoảng ... chạy lấy người. Ai đi bay với tôi cũng đều than phiền.

Một buổi sáng, đích thân ông phi đoàn trưởng xách chiếc U-17 lên Pleiku đi điều tra t́nh h́nh. Khi chiếc tàu của ông vừa đáp th́ một cơn mưa pháo của giặc cũng ào ào rớt xuống làm cho ông Tám càng giận thêm. Chỉ v́ thằng thiếu úy mất dạy mà ông phải khổ sở như thế này. Gặp tôi, ông phùng mang trợn mắt xài xể và hăm dọa một lúc rồi đi một ṿng thăm nơi ăn chốn ở của anh em, hỏi han dặn ḍ rồi ra về.

Tôi có bớt đi chút ít nhưng sau đó th́ vẫn chứng nào tật ấy.

Một ngày nọ, tôi chở một ông đại úy bộ binh của pḥng 2 tiểu khu Pleiku đi thám sát. Vừa quay máy tàu xong, đang tà tà di chuyển phi cơ th́ phi trường bị pháo kích. Tôi nghe đài kiểm soát là ùm trong tần số, thông báo phi trường đóng cửa, tất cả các phi vụ bị tạm thời đ́nh chỉ, yêu cấu tất cả các phi cơ đang di chuyển trở về bến đậu. Dĩ nhiên tất cả các phi cơ khác đều quay lui về ụ, chỉ c̣n ḿnh tôi tiếp tục lang thang trên đường taxiway, coi lệnh lạc của đài kiểm soát chẳng ra ǵ, coi pháo giặc cũng chẳng ra ǵ luôn. Chẳng phải v́ tôi ngon lành ǵ nhưng nghe bị pháo mà nh́n quanh tôi chẳng thấy trái pháo nào rớt cả nên cứ giả vờ như ḿnh không biết. Quả đúng là “chưa có thằng nào ngu hơn thằng này.” Tôi không muốn trở về bến đậu v́ trời Pleiku vào khoảng 2 giờ trưa, mùa hè nóng bức vô cùng. Hơi nóng từ trên cao đổ xuống, từ mặt đất bốc lên, làm cả 2 người ngồi trong phi cơ như ngồi trong ḷ bánh ḿ. Nghĩ đến cái cảnh phải trở về bến đậu rồi cà kê với mớ đồ nghề lỉnh kỉnh, tháo dù, cất dù, tôi đâm ra làm biếng. Tôi chỉ muốn cất cánh mau rồi leo lên chừng 5, 6 ngàn bộ cho nó được mát mẻ một chút. Ông sĩ quan bộ binh pḥng 2 đi bay với tôi th́ dĩ nhiên không có ư kiến ǵ rồi.

Đến cuối đường bay, tôi bấm máy gọi xin ra phi đạo cất cánh. Mấy ông đài kiểm soát này giờ tưởng tôi bị hư vô tuyến, bây giờ mới bật ngữa. Mấy cha la hoảng lên như bị ai bóp dái:
-Mustang 12, đài kiểm soát gọi bạn nảy giờ không được. Phi trường đóng cửa, đài kiểm soát yêu cầu bạn trở về bến đậu gấp.
-Bạn cho tôi ra cất cánh... đại cái đi bạn. May ra tôi c̣n t́m thấy pháo chúng nó để phản pháo.
-Negative! Đài kiểm soát thông báo một lần nữa, yêu cầu Mustang 12 trở về bến đậu gấp.

Ngay lúc đó, h́nh như tôi nh́n thấy được một cụm khói đen bốc lên ở đâu đó trong phi trường, dấu hiệu pháo bắt đầu rớt. Nguy cấp rồi, khỏi thèm căi vă với mấy cha đài kiểm soát này làm chi, tôi bèn tứ động tống ga nhào ra phi đạo rồi đẩy cần ga lút cán. Chiếc L-19 chồm tới trước, chỉ vài trăm thước là hỏng bánh ngay. Tôi kéo tàu lên, quẹo gắt ra khỏi phi trường, trong tai vẫn c̣n nghe mấy ông đài kiểm soát lải nhải. Tôi cười h́ h́, nói thầm với ḿnh: “Mẹ, biết rồi, khổ lắm, nói măi...”

Hành động điên rồ của tôi, nếu ở một hoàn cảnh khác th́ có thể đă bị treo cánh bay vĩnh viễn, nhưng ờ một vùng địa đầu giới tuyến, giữa lúc cường độ chiến trường như vậy, tội của tôi được coi là nhẹ. Tuy nhẹ nhưng điện thoại cũng gọi tới tấp về biệt đội và phi đoàn. Hết ông an phi sư đoàn rồi đến ông an phi không đoàn thay phiên nhau mắng vốn về tôi. Tôi nghĩ đến cảnh ông trung tá Tám lại một phen nữa phải vểnh tai ra nghe thiên hạ xài xể v́ có thằng thiếu úy du côn mà không biết dạy. Chiếu đó về biệt đội, ông biệt đội trưởng, đại úy Huy gọi tôi ra một góc, mặt mày hầm hầm:
-ĐM sao mà tôi chán cái ông quan con này quá, lại có chuyện rồi. Ông Tám mới gọi ra, xỉ và tao tưng bừng...
-Em biết rồi, chuyện cất cánh hồi chiều chứ ǵ?
-Tụi an phi nó bẩo ông cất cánh không có lệnh đài kiểm soát, làm bộ hư vô tuyến, đủ thứ...

Tôi đáp tỉnh queo:
-Trời đất, vô tuyến của em hư thật, lúc nghe được lúc không. Đến chừng nghe đài kiểm soát bảo đóng cửa phi trường th́ pháo nó rớt gần quá, em hoảng hồn cất cánh luôn. Teo quá, chỉ sợ chết...

Nói xong tôi c̣n làm bộ dậm chân dậm cẳng như là ḿnh vô tội mà bị oan ức lắm. Đại úy Huy không biết phải nói ǵ, đành than thở:
-Cái phi đoàn này ngày ông chưa về th́ nó yên thế mà bây giờ ngày nào cũng có chuyện. Thôi chuẩn bị mồm mép đi để lúc đổi biệt đội về tŕnh diện ông Tám. Mấy ngày c̣n lại, ông bay với tôi. Cấm không được lạng quạng, nghe rơ không ông thần?

Tôi gật đầu sốt sắng. Lúc quay trở vào, tôi c̣n nghe đại úy Huy lẩm bẩm đằng sau lưng: “Đù mẹ sao mà tôi chán ông quan con này quá, lúc nào cũng sinh chuyện được.”
Đến ngày đổi biệt đội, tôi vừa đáp xuống phi trường Nha Trang th́ đă thấy chiếc xe díp của phi đoàn trưởng đậu sẵn. Người tài xế mời tôi lên xe rồi chở thằng về phi đoàn. Tôi vào tŕnh diện ông Tám.

Tôi có thể lừa được nhiều người nhưng ít khi nào lừa được phi đoàn trưởng của tôi. Làm một cánh chim đầu đàn mà không biết mấy cái mưu chước vặt của đàn em th́ làm sao trị được những thằng phi công vô kỷ luật cỡ như tôi. Chỉ vài câu hỏi hóc búa thôi là cái tội nói láo của tôi bị ḷi ra ngay. Thế là một lần nữa hết đời tên gian ác.

Chiều hôm đó, sau 15 ngày biệt phái, thay v́ được về nhà ăn nhậu như những người khác th́ tôi lại lóc cóc leo lên xe Quân Cảnh trực chỉ Cải Hối Thất. Sao mà tôi ghét những chiếc xe díp nhà binh như thế này. Người ta thường ngồi lên đó lái đi phom phom coi rất oai phong lẫm liệt c̣n tôi th́ chỉ ngồi lên để đi tŕnh diện xếp lớn hay đi tù. Ngồi trên xe, tức quá mà chằng biết làm ǵ, tôi đành lôi mấy thằng đài kiểm soát Pleiku ra mà nguyền rủa. Tiên sư chúng nó, đúng là chuyện bé mà xé ra to để tôi phải đi tù...

Có lẽ chỉ muốn dằn mặt ông thiếu úy du côn một chút thôi nên sáng sớm ngày hôm sau tôi được thả ra. Lần này tôi được ông Tám cho một đại úy lái xe díp (lại xe díp) đi đón tôi và tôi được tặng một tờ giấy phép 5 ngày với nhiều lời nhắn gời...
Sau đó, bẵng đi một thời gian đến mấy năm, tôi không c̣n nhớ cái h́nh dáng của Cải Hối Thất nó tṛn hay méo như thế nào nữa. Chẳng phải v́ tôi trở nên tốt lành ǵ nhưng càng lớn th́ tôi càng khôn ra, làm ǵ cũng cẩn thận, ngó trước ḍm sau chứ không ào ào như những ngày xưa...

Tôi trưởng thành dần theo cuộc chiến cho đến lần xảy ra vụ ở tù lần thứ tư....
Khoảng đầu năm 1974, giặc bỗng tấn công và tràn ngập đồn Bu Prăng. Cái đồn địa phương quân này có một vị thế chiến lược quan trọng v́ nó nằm giữa con lộ duy nhất nối liền Quảng Đức và Ban Mê Thuột.

Quận lỵ Quảng Đức, vốn đă từ lâu “sống âm thầm cô độc” giữa những khu rừng già trùng trùng điệp điệp nên chịu số phận hẩm hiu: Chỉ là miền đất lạnh lẽo dành cho những kẻ bị lưu đày. Bộ binh ở đây toàn là những kẻ ngang tàng và hào sảng như thiếu tá Trương Minh Dũng, tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức. Thiếu tá Dũng, “người anh em” của phi đoàn 114, xuất thân khóa 1 hay khóa 2 Thủ Đức, vừa ra trường là gia nhập binh chủng nhảy dù, đánh hàng trăm trận lớn nhỏ trước khi được tổng thống Diệm đưa qua địa phương quân để vừa làm cán bộ vừa nâng cao khả năng chiến đấu của những đơn vị này. Gần mấy chục năm máu lửa và sương gió trên khắp nẻo quê hương cũng chỉ được nhà nước nhớ ơn bằng cặp lon thiếu tá khiêm nhường trên cổ áo. Phi đoàn tôi từ nhỏ tới lớn ai mà không biết hoặc không quen thiếu tá Dũng với cái điếu cày thuốc lào luôn luôn có trên tay. Cái điếu cày bằng nhôm màu bạc này là vật bất ly thân của thiếu tá Dũng dù trên chiến trận, trong tàu bay L-19, nơi pḥng họp hành quân với tư lệnh quân đoàn, hoặc ở các pḥng trà nhảy đầm danh tiếng của thủ đô Sài-g̣n những lần về phép. Cái con người ngang tàng lạ lùng này của quân lực c̣n là một nhà thơ nỗi tiếng với những bài như “Nỗi buồn của Hạ”, “Xuân Cao Nguyên”, “Bỏ phố lên rừng...” Riêng bài Bỏ Phố lên rừng lúc ấy đă được Châu Kỳ phổ nhạc, nghe rất hay.

Về phía không quân th́ đi biệt phái Quảng Đức cũng coi như khăn gói đi tu mười lăm ngày. Cả thành phố chỉ có được một khu chợ chính nằm trên con đường dài không quá một trăm thước, khách bộ hành, vừa đi vừa nghỉ, cũng chỉ cần năm phút là về chỗ cũ.

Nhỏ vậy, nghèo vậy, hiền lành như vậy, nhưng Quảng Đức với tôi có nhiều kỹ niệm vô cùng. Ai cũng sợ đi Quảng Đức, chỉ có ḿnh tôi, đại úy Hưởng, đại úy Nhơn là cóc cần v́ chúng tôi đă có “bùa”. Chiều chiều, chúng tôi hay hay rủ rê anh em xách tàu bay qua Lâm Đồng nhậu nhẹt với thiếu tá Dũng hay lên Đà Lạt hay qua Ban Mê Thuột chơi. Quảng Đức là một quận ly hiền lành, dường như giặc cũng chê cái thành phố này cho đến hôm nay.

Lấy xong Bu Prăng, con cháu giặc Hồ c̣n chơi bạo, tính kéo luôn quân về vây hăm Quảng Đức. Thế là chúng tôi có nhiều việc làm.

Chiến dịch tái chiếm Bu Prăng, vào lúc căng thẳng nhất, đă có đến 6 phi hành đoàn L-19 túc trực ngày đêm để làm việc với một liên đoàn Biệt Động Quân, một trung đoàn của sư đoàn 23 bộ binh và chiến đoàn III xung kích LLĐB. Rất từ từ nhưng quân ta cũng chặt đứt được khúc đuôi của giặc, giải tỏa áp lực cho Quảng Đức đồng thời tiền gần trở lại Bu Prăng.

Tôi bay lên biệt phái cho Quảng Đức một thời gian th́ một buổi trưa, vừa về đáp sau một phi vụ, tôi đang nằm ngủ trong căn nhà của biệt đội. Sáng đó, tôi bay sớm và bay lâu nên về nhà th́ mệt nhoài. Tôi cũng không c̣n nhớ lúc ấy những phi hành đoàn khác đă bỏ đi đâu mà chỉ c̣n có ḿnh tôi ở lại biệt đội. Tôi nghĩ họ chở nhau đi ăn cơm.

Đang nằm thiu thiu th́ bỗng có một chiếc xe díp nhà binh phóng như bay rồi thắng kít ngay trước cửa biệt đội. Bụi đỏ tung mù trời phủ mờ chiếc xe díp và h́nh ảnh mấy ông mặc áo rằn ri không rơ lon lá đang phóng xuống chạy như bay vào. Biệt đội Quảng Đức chúng tôi trú ngụ trong một căn nhà xây xi-măng. Từ đầu tới đuổi căn nhà, chúng tôi kê đúng 12 cái giường bố sắp thẳng băng sát cạnh nhau như trong một cái bệnh viện. Giữa nhà là một chiếc bàn con và cái điện thoại để liên lạc với trung tâm hành quân tiểu khu và sĩ quan liên lạc không quân. Chiếc bàn con này coi vậy mà làm được nhiều việc. Nó vừa là nơi họp hành quân, nơi ăn uống, nơi đánh bài và dĩ nhiên, cũng là bàn rượu khi rỗi rảnh. Giường tôi nằm khá xa phía trong.

“Mẹ, lại có chuyện rồi, thế là mất tiêu buổi ngủ trưa,” tôi vừa cằn nhằn vừa trở ḿnh nh́n ra, chỉ hy vọng mấy ông mặc đồ rằn ri đổi hướng khác, không bước vào đây.
Nhưng họ không đổi hướng, cứ xăm xăm đi vào. Chẳng biết mấy ông muốn ǵ đây mà bộ tịch coi ghê quá. Tôi liền dựng người trở dậy, thọc vội cái áo bay vào người, kéo xong phẹc ma tuya th́ mấy ông rằn ri cũng vừa tới trước mặt. Th́ ra toàn là những sĩ quan của Sở Liên lạc Nha Kỹ Thuật, phù hiệu đỏ chói của Tổng Tham Mưu bên tay trái và huy hiệu chiếc dù có con cọp hay con beo ǵ đó trước ngực. Theo trí nhớ của tôi th́ có một ông trung úy và hai ông đại úy, mặt mày ai nấy coi có vẻ nghiêm trọng vô cùng.

Tôi chưa kịp đưa tay chào mấy ông sĩ quan lớn lon hơn tôi theo đúng lễ nghi quân cách, chưa kịp nói ǵ th́ một ông đại úy hỏi:
-.... Em là phi hành đoàn duy nhất ở đây?
Theo thói quen học được từ những ngày c̣n ở trường bộ binh Thủ Đức, tôi cung tay chào mấy quan Lôi Hổ:
-Dạ đúng đại úy, không biết mấy ông kia đi đâu hết rồi. Đại úy cần gặp ai?

Nghe như thế th́ khuôn mặt mấy người sĩ quan Nha Kỹ Thuật thoáng lên vẻ thất vọng. Tôi kéo mấy cái ghế sắt:
-Mời đại úy và quí vị ngồi chơi, tôi xin phép đi sỏ đôi giầy.

Họ cám ơn tôi rồi cùng nhau xầm x́ to nhỏ ǵ đó. Tôi b́nh thản ngồi xuống giường mang giày vớ. Mặc áo nhà binh lâu, tôi đă quá quen với những bất ngờ, những bấc trắc của cuộc chiến nên đă học được cái tính phớt tỉnh Ăng Lê. Chuyện ǵ xảy ra, tin tức ǵ cũng chẳng làm cho tôi bận tâm. Thêm vào đó, hồi đó tôi đang trở chứng, muốn t́m hiểu và đang đọc các loại sách nói về Kinh Dịch, về luật Âm Dương của tạo hóa nên trở nên là đà, mặt mày lúc nào cũng đăm chiêu tư lự và chán đời như ông Trang Tử ngày xưa.

Mang giày xong, tôi ra kéo ghế ngồi giữa mấy ông sĩ quan Nha Kỹ Thuật, châm lửa một điếu thuốc:
-Nếu đại úy muốn kiếm ông biệt đội trưởng, đại úy có thể dùng điện thoại đây gọi về cho trung tâm hành quân tiểu khu. Mấy ông “Alo” (sĩ quan liên lạc không quân) chắc biết ổng ở đâu.
Một ông đại úy lên tiếng sau một vài giây ngần ngừ:
-Chúng tôi có một việc cần anh giúp đỡ, nếu anh giúp được chúng tôi cám ơn anh vô cùng.

Lời nói khẩn thiết và chậm răi của vị sĩ quan Nha Kỹ Thuật làm cho tôi ngạc nhiên. Một thằng thiếu úy không quân hạng bét như tôi th́ giúp ǵ được mấy ông rằn ri thứ dữ này ? Nhưng cứ nh́n điệu bộ và cách ăn nói th́ mấy ông này giữa trưa lái xe tới đây không phải để đùa dai với tôi. Trong một giây phút, tôi cảm thấy khoái chí v́ ḿnh tự nhiên được trở nên một nhân vật quan trọng.

Tôi nhíu mày:
-Đại úy cần ǵ, xin đại úy cứ cho biết...

Người sĩ quan Nha Kỹ Thuật nh́n thật sâu vào mắt tôi, nói chậm răi và bằng tất cả những sự thống thiết của một con người:
-Một toán Lôi Hổ của tôi thả xuống lần trước đă bị Việt Cộng phát hiện, bị bao vây và tấn công mấy ngày. Tụi nó đă chạy thoát được nhưng đang bị phân tán mỗi người một nơi và lạc trong rừng. Tôi muốn nhờ... thiếu úy, muốn nhờ... em giúp tôi bay lên để gom chúng nó về một LZ an toàn.

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tưởng ǵ chứ đi bay kiếm Lôi Hổ bị lạc và chọn băi đáp th́ quá thường đối với tôi. Tôi chịu nhất là cái tài chiếu kiếng của mấy ông này. Nhiều khi tôi bay rất cao, giữa rừng già thăm thẳm mênh mông mà mấy ông chỉ cần chiếu một phát là tôi nh́n thấy ngay. Chà bù với mấy ông bộ binh, nhiều khi chiếu cả ngày cũng chẳng thấy đâu. Nhưng một phi vụ đơn giản như thế th́ tại sao lại khổ sở vào đây để kiếm tôi?

Tôi nói ngay:
-Có ǵ đâu đại úy, đại úy cứ việc gọi về trung tâm hành quân, request một phi vụ là tôi cất cánh liền.
Ông đại úy lắc đầu:
-Nếu xin được th́ tôi đâu có đến đây kiếm anh.

Th́ ra vậy. Số là, không quân chúng tôi khi được biệt phái đi bay yểm trợ cho các đơn vị bạn, mỗi ngày trung tâm liên lạc hành quân đều thông báo cho bộ tư lệnh chiến trường biết có bao nhiêu tàu khả dụng, bao nhiêu phi vụ có thể cất cánh được. Số phi vụ này được tư lệnh chiến trường, tùy theo mức độ cần thiết và nhu cầu, chia ra cho các đơn vị tham chiến. Khi một đơn vị cần phi cơ yểm trợ, họ chỉ việc gọi cho trung tâm liên lạc hành quân. Nơi này, tùy theo số lượng phi vụ đă được cấp phát trước, sẽ cho chúng tôi cất cánh để làm việc với họ. Tôi không ṭ ṃ hỏi thêm nhưng biết chắc có lẽ đơn vị Lôi Hổ này đă xài hết những phi vụ của ḿnh, hoặc v́ t́nh trạng thiếu thốn máy bay, không xin được một phi vụ nào cả, đành phải đau xót nh́n những đứa con của ḿnh bị rượt đuổi giữa rừng già.

Đối với chúng tôi, ngoài những phi vụ huấn luyện hay bay thử phi cơ, cất cánh không có phi vụ lệnh đàng hoàng là sẽ bị ở tù hoặc đưa ra ṭa án quân sự. Thân bại danh liệt là cái chắc. Thật ra, trong suốt cuộc đời bay bổng, chúng tôi cũng đă nhiều lần cất cánh lậu để đi ân nhậu hay chở bạn bè đi chơi nhưng chúng tôi đều luôn luôn có phép ngầm của trung tâm liên lạc hành quân. Nhiều khi, những người hành khách mà chúng tôi chở đi chẳng ai khác hơn là ông sĩ quan truỏng pḥng liên lạc hành quân dù đi chơi hoặc bạn bè của ông ta. Nhưng đó là chuyện thời b́nh, khi không có việc ǵ để làm. Điềm quan trọng là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng tôi không bao giờ dám cất cánh lậu mà trung tâm liên lạc hành quân không biết. Hôm nay, giữa lúc khói lửa ngút trời như thế này, không ai dám nghỉ đến việc xách tàu đi đâu.

Tôi đă tính lắc đầu. Chuyện của thiên hạ th́ mắc mớ ǵ tới ḿnh mà bày đặt. Hơn nữa, cái tiếng tăm của tôi trong phi đoàn lúc ấy đă quá nổi. Không phải nổi nhờ những cái hay mà toàn là những chuyện bê bối và “gian ác.”

Tết vừa rồi, ngày mùng ba, tôi bay mấy trăm dặm đường về Ban Mê Thuột để chúc Tết và nói chuyện đầu năm với thân phụ. Sau một ly trà nóng, ông đă bảo tôi bằng một giọng buồn buồn và mệt mơi rằng: “Con đă lớn tuổi, phải sửa lại tính t́nh để lo cho tương lai, không thể sống măi như một người vô trách nhiệm.” Cái chết của thằng em ruột tôi, trung sĩ Lê Xuân Bích tại trận Tân Cảnh năm 1972 đă đem tang tóc vào nhà tôi và làm cho ông buồn bă vô cùng. Tôi nhớ, khi em tôi vừa ra trường Đồng Đế, về sư đoàn 23 bộ binh, nhiều người đă bảo ông sao không chạy chọt cho nó được một chỗ ấm thân. Thân phụ nghiêm mặt trả lời: “Nếu ai cũng lo chạy chọt như ḿnh th́ chính phủ lấy người đâu mà đánh giặc. Hơn nữa, nhà nghèo quá, tiền ăn c̣n không có th́ lấy tiền đâu ra mà chạy chọt.” Thật là một lời nói đau buồn nhưng không phải không có lư. H́nh như cái chết của thằng con trai đă ám ảnh ông. Thân phụ không c̣n như xưa nữa. Nghĩ đến thân phụ tuổi đă cao, lại khổ cực cả một đời v́ con cái nên tôi có thành tâm hối cải, tính tu thân để trở thành một “cán bộ nồng cốt của phi đoàn” như lời dạy dỗ của phi đoàn trưởng. Nhưng số tôi làm như không có... căn tu cho nên lâu lâu cứ bị dây dưa vào những chuyện đâu đâu.

Tôi suy nghĩ sâu hơn nữa. Nh́n những vị sĩ quan của Nha Kỹ Thuật ngồi trước mặt, ḷng tôi bỗng tự dưng dâng lên một niềm kính phục kỳ lạ. Giữa lúc có nhiều ông sĩ quan cao cấp đem bán cả gạo, cả súng đạn cho giặc th́ những con người Việt Nam này, những sĩ quan trẻ tuổi này, mặt mày lo âu, mắt ai nấy ngầu đỏ v́ thiếu ngủ đang ngồi chờ sự quyết định của tôi. Nếu tôi đồng ư, các vị sẽ cứu được những người lính của ḿnh, những người tuy không phải bà con ruột thịt nhưng t́nh chiến hữu c̣n khắng khít c̣n cao hơn máu mủ ruột thịt. Nếu tôi từ chối, chẳng làm ǵ tôi cả và tôi sẽ không bị lôi thôi rắc rối với phi đoàn hay pháp luật. Nhưng nếu làm vậy, tôi biết những người lính Lôi Hổ anh dũng kia có thể bị giặc bắt hay tàn sát và lương tâm tôi, cái lương tâm của một sĩ quan QLVNCH, dù mang một cấp bậc rất nhỏ là thiếu úy sẽ dằn vặt sâu xé tôi suốt đời.

Tôi lại nghĩ đến những lần cất cánh trái phép để đi chơi bời, đi ăn nhậu. Xăng chính phủ, tàu bay chính phủ, tôi sử dụng trái phép như thế chẳng khác ǵ tôi phạm tội tham nhủng, ăn cắp của công. Tôi chửi bới người khác tham nhủng, c̣n tôi, ai sẽ chửi bới tôi? Lớn ăn theo lớn, nhỏ phá theo nhỏ, c̣n ǵ là cái gia tài của quốc gia?

Ông đại úy Nha Kỹ Thuật mời tôi điếu thuốc. Ông cười... cầu tài. Tôi thấy nụ cười của người đàn anh trong quân đội sao vừa buồn mà lại vừa oai dũng, vừa chịu đựng, lại vừa quyết liệt. Ông nói, giọng như người anh khuyên bảo đứa em trai:
-Thiếu úy cứ tính đi. Anh em chúng tôi không muốn làm cho thiếu úy kẹt. Nhưng nếu giúp được chúng tôi, chúng tôi sẽ cám ơn vô cùng...

V́ trách nhiệm, v́ t́nh chiến hữu sắc son, v́ muốn cứu mấy người lính của ông ta, một vị đại úy oai hùng của Nha Kỹ Thuật đă mời thuốc lá và cười cầu tài với một chú thiếu úy oắt con như tôi. Tôi bỗng thấy trái tim ḿnh như rướm máu, ḷng dạ xót xa bồi hồi. Tự nhiên, tôi thấy thương quân đội tôi, dân tộc tôi vô cùng. Ngày nào quân đội tôi c̣n những sĩ quan như thế này, ngày đó chúng tôi và những người đàn em của ông ta c̣n có lư do và để hănh diện chiến đấu. Quân đội tôi, cái quân đội nghèo nàn bắt đầu không phải từ con số không mà từ con số trừ to lớn bởi v́ đă bị bóp méo coi thường ngay từ những giây phút đầu tiên. Bọn CS đă ḷe được thiên hạ để mang cái vơ “Quân đội Nhân dân” bên ngoài. Chúng tôi, những chiến sĩ của nhân dân thật sự th́ lại mang tiếng là lính hậu thân của quân đội thuộc địa. Hàng bao nhiêu năm qua, bạn cũng như thù, đă đem quân đội tôi ra mà nhục mạ, bêu xấu, hành hạ đủ điều.

Tôi không phủ nhận quân đội tôi đă có những thằng tướng hèn, tướng phản bội, tướng nối giáo cho giặc. Nhưng, trên cơi đời này, có cái ǵ là tuyệt đối? Những bê bối, những xấu xa, quân đội nào chả có đâu phải chỉ riêng ḿnh quân đội tôi.

Chính những người sĩ quan của một binh chủng hung hăn nhất quân lực ngồi trước mặt tôi ngày hôm nay làm cho tôi nghẹn ngào mà hănh diện, vui mà buồn. Tôi nhớ đến cái chết của thằng em tôi tại chiến trường Tân Cảnh ngập máu năm nào. Mỗi lần nghĩ về em, ḷng tôi như bị ai đâm lút cán một lưỡi dao. Tôi lại nhớ đến lời nói của thân phụ: “Không thể sống măi như một người vô trách nhiệm.” Trách nhiệm của tôi, một sĩ quan xuất thân trường bộ binh Thủ Đức, một phi công của QLVNCH trong hoàn cảnh này là ǵ? Là bằng mọi cách, phải cứu cho bằng được những chiến sĩ Lôi Hổ can trường kia. Tôi cũng đă suy nghĩ đến những hậu quả có thể xảy ra cho tôi. Đi tù, “cát xê ga lông”, ra ṭa án quân sự vân vân. Và cũng có thể, sẽ chẳng có ǵ xảy ra cho tôi hết. “Không thể sống măi như một người vô trách nhiệm” câu nói của thân phụ lại trở về ám ảnh lấy tôi.

Tôi gật đầu, mặt đanh lại với câu nói quyết định:
-Được, tôi sẽ cất cánh mà khỏi cần phi vụ lệnh. Đại úy cho người đi bay với tôi.
Ba khuôn mặt đang buồn thảm bỗng trở nên sáng ngời như những v́ sao. Vị đại úy đứng dậy, đưa hai tay ra nắm lấy vai tôi, giọng hớn hở như đứa con nít được quà:
-Em... em bay cho tụi tôi thật à. Thế th́ quư hóa quá, hay quá, tốt quá. Thế mới là huynh đệ chi binh chứ. Mà cất cánh ... bất ngờ như vậy có sao không? Có kẹt ǵ cho em không?

Đă lỡ giúp, tôi đành giúp cho trọn:
-Không sao đâu đại úy, cùng lắm th́ bị phi đoàn trưởng xài xể chút thôi.
Tôi đứng dậy ra đầu giường để chuẩn bị dụng cụ phi hành. Khi thấy tôi lôi cây AK-47 từ trong góc giường ra, một người hỏi:
-Anh thích xài AK ư?
Tôi hănh diện khoe:
-Dạ, quà của trung tá Xuân, tham mưu trưởng quân đoàn cho đấy.

Tôi vốn là một thằng ngược đời. Thằng Hiệp, bạn thân nhất có lần bảo tôi: “Con người mày nó kỳ lạ làm sao ấy. Mày luôn luôn phải có tí ǵ khác người th́ ăn cơm mới thấy ngon. Thiên hạ đeo súng ở thắt lưng th́ mày đeo ở nách, đeo lon ở vai th́ mày đeo ở cổ, xài M-16 th́ mày lại thủ AK coi cứ như một thằng du kích Việt Cộng. Anh em khoái đánh bài th́ mày tối ngày cứ ôm mấy cuốn sách mà đọc, thích nói chuyện chơi bời th́ mày lại giảng Kinh Dịch, bàn chuyện tử vi tướng số hoang đường và triết lư lẩm cẩm. Không biết chừng nào mày mới khá được như chúng tao.”

Tôi phóng lên chiếc xe díp của Nha Kỹ Thuật. Ông đại úy lái xe, tôi leo ra phía sau ngồi nhưng ông ta nhất định không chịu, bắt tôi ngồi ghế trước với ông. Từ chối không được, tôi đành phải ngồi ở ghế trước. Ông đại úy và ông trung úy kia ngồi sau. Ông đại úy ngồi sau khom tới trước, đưa cho tôi coi tấm bản đồ với những khoanh màu xanh màu đỏ đủ thứ và bắt đầu briefing. Đă bay vùng này mấy năm nên tôi chẳng lạ ǵ, nh́n qua là tôi nhớ liền. Sau vài phút đồng hồ, tôi đưa một ngón tay lên trời ra dấu nhận và hiểu.

Xe phóng thẳng lên phi trường Quảng Đức là một quả đồi nhỏ. Tôi lên tàu quay máy, chở ông đại úy bay tới vùng làm việc. Chừng 2 tiếng đồng hồ sau tôi đem tàu về đáp. Cả tôi và vị sĩ quan Nha Kỹ Thuật hả hê sung sướng v́ phi vụ coi như thành công mỹ măn. Ông ta đă kiếm được hết mấy đứa con đi lạc và gom họ hướng về một LZ an toàn. Ngày mai sẽ có một hợp đoàn trực thăng lên bốc họ về.

Di chuyển tàu về tới bến đậu, tôi loáng thoáng trông thấy mấy cái áo bay nhấp nhô ở đàng xa. Một dấu hiệu không tốt. “ĐM lại có chuyện rồi”, tôi lẩm bẩm. Biết thế nhưng giờ phút này không phải là giờ phút để hối hận. Muốn ra sao th́ ra, tôi cóc cần.

Tắt máy xong, tôi tháo mũ bay, chụp cây AK và leo xuống tàu, b́nh thản, tự tín. Chiếc xe díp của Nha Kỹ Thuật ào tới như một cơn lốc. Vị đại úy Nha Kỹ Thuật nọ bước xuống, thân mật đửa tay cầm lấy nón bay của tôi:
-Để tôi đưa em về, ḿnh ghé qua tiệm cơm kiếm chút ǵ bỏ bụng. Cám ơn em rất nhiều. Tối nay anh em chúng tôi ngủ yên giấc được rồi.

Khuôn mặt ông ta rạng rỡ dưới ánh nắng vàng của chiều cao nguyên Quảng Đức. Tôi đứng yên, hất đầu về phía có nhóm người đang mặc áo bay:
-Cám ơn đại úy nhưng chắc tôi phải cất cánh phi vụ kế tiếp, h́nh như anh em đang chờ.

Chiến trường đang ở hồi khốc liệt, chẳng ai có th́ giờ cà kê lẩm cẩm, chúng tôi vội vă chia tay nhau. Mỗi người trong bọn họ siết chặt tay tôi, nói những lời cám ơn chân t́nh. Đáp xuống từ một độ cao cho nên hai lỗ tai tôi c̣n hơi bị ù, nghe được tiếng c̣n tiếng mất. Tôi không nghe được hết nhưng tôi nh́n thấy hết trong ánh mắt của họ vẻ trỉu mến, biết ơn và cảm phục. Trước khi leo lên xe díp, vị đại úy nọ bảo tôi:
-Tôi hy vọng không có ǵ rắc rối cho em. Tôi có nói chuyện với ông biệt đội trưởng của em, ổng bảo đối với ổng không có ǵ trở ngại. Nhưng nếu có ǵ, cứ gọi cho tôi, tôi sẽ nhờ chiến đoàn can thiệp. Thôi cám ơn em lần nữa nhé. Ráng giữ thân ḿnh, anh em báo cáo Việt Cộng có đem hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 về đây từ hồi đầu chiến dịch đó.

Tôi vẫy tay chào. Chiếc xe lăn bánh đi, nhưng được vào ṿng bỗng ngừng lại và de lui đến trước mặt tôi. Ông đại úy hớn hở:
-Vội quá nên quên, tôi có mấy cây AK c̣n mới tinh, ngày mai tôi sẽ ghé qua biệt đội tặng em một cây làm kỹ niệm.

Tôi mỉm cười cám ơn ông đại úy. Thật ra th́ lúc ấy tôi đă chán AK rồi, nặng bỏ mẹ, đang tính bán cây AK đang cầm để mua chai rượu. Tôi nghĩ giá ngài đại úy tặng tôi một chai rượu th́ tốt hơn nhưng không dám nói ra. Chiếc xe díp lại lăn bánh. Lần này chiếc xe mất hút giữa đám bụi mù.

Tôi tà tà lê từng bước một đến chỗ băi đổ xăng của biệt đội. Đại úy Nhơn đă “ghia ghiếc” (một danh từ chỉ phi công đă trang bị phi hành đầy đủ) xong, đang chờ đợi tôi.

Biết thân phận ḿnh, tôi liền biểu diễn một nụ cười cầu tài để “do thám t́nh h́nh.” Đại úy Nhơn cười theo, rất thông cảm, rất chân thật. Như thế là quá tốt. Xếp “địa phương” mà thông cảm được như thế th́ tôi đỡ được một gánh nặng. Đại úy Nhơn cũng chẳng hỏi tôi đi bay đâu mới về. Đúng hơn, cả hai chẳng nói ǵ nhiều với nhau. Ông đại úy chỉ bảo cất cánh lẹ lên để c̣n bàn giao với chiếc L-19 đang làm việc trên vùng.

Suốt phi vụ, ngài đại úy chẳng nói ǵ về chuyện cất cánh vừa rồi. Tôi cũng lờ luôn. Trước khi về đáp, ngài đại úy chỉ để cập vấn đề của tôi hơi vắn tắt:
-Chuyện đi bay của chú anh coi như không biết. Anh đồng ư chuyện chú làm. Chỉ sợ kẹt là kẹt phi đoàn thôi. Chú biết tính ông Tám mà, ổng biết được th́ thế nào cũng có chuyện.

Và phi đoàn trưởng của tôi đă biết được chuyện này ngay cả trước khi tôi về đáp với đại úy Nhơn. Biết bằng cách nào tôi không biết và cũng chẳng cần t́m hiểu. Xă hội nào, thời đại nào, tập thể nào cũng luôn luôn có những con kư sinh trùng thối tha sống bám vào máu mủ của đồng loại bằng cách báo cáo vặt để kiếm tí điểm, tí ân huệ dư thừa. Cách hay nhất để sống là đừng thèm để ư hay biết đến bọn này. Biết chỉ làm cho ḿnh bực ḿnh.

Ngày hôm đó, tôi bay tổng cộng hơn 10 tiếng đồng hồ nên về đến biệt đội là phóng lên giường ngủ như chết, quên cả ăn uống.

Sáng hôm sau, lệnh từ Nha Trang gọi về: “Không cho thiếu úy Nhị đi đâu hết. Bảo hắn chuẩn bị hành lư có tàu lên chở về phi đoàn.” Đại úy Nhơn đích thân nhận chỉ thị này sau khi bị xài xể thậm tệ trong điện thoại. Lúc ấy trời c̣n tối mịt, tôi đang nằm trên giường thưởng thức điếu thuốc Capstan đầu tiên trong ngày. Tôi chỉ nghe ngài đại úy đáp những câu vắn tắt như: “Tôi không biết trung tá,” và “Làm sao tôi biết được trung tá?”

Chừng đó thôi cũng giúp tôi hiểu được cái số phận của ḿnh. Gác điện thoại cái cụp, đại úy Nhơn nổi máu giang hồ, đứng giữa pḥng chửi đổng cho tất cả biệt đội nghe:
-ĐM thằng C... hèn hạ khốn nạn nào báo cáo th́ phải báo cáo cho đúng. Chuyện thằng Nhị nó làm th́ tao biết C... ǵ, sao lại lôi cả tao vào? ĐM tao mà biết được thằng C... chó má đó th́ tao vặn cổ.

Đă biết tính t́nh của đại úy Nhơn, chẳng có thằng C... nào dám mở miệng. Tiếng quát tháo của ông đại úy phi công lúc trời chưa sáng như vang dội cả núi rừng Quảng Đức. Tôi hút xong điếu thuốc, nằm im nh́n lên khoảng tối âm u trên trần nhà. Âm u như đất nước tôi, dân tộc tôi. Một lần nữa, tôi lại làm phiền đại úy Nhơn. Ông đại úy này vào tôi có nhiều kỹ niệm lạ lùng tôi sẽ đề cập tới trong một lúc khác.

Chửi bới một lúc xong, ngài đại úy đến bên giường tôi, kêu ra ngoài nói chuyện.
Mặt trời vùng cao nguyên hôm ấy dậy khá trễ, gần sáu giờ mà vẫn chưa chịu ló mặt ra. Tôi và đại úy Nhơn đứng hút thuốc ngoài biệt đội, trong bóng tối gần tàn của rạng đông, trên một ngọn đồi, nh́n xéo xéo xuống thung lủng mờ mờ phía trước. Gió cao nguyên thổi lồng lộng, hơi lành lạnh làm tăng thêm giá trị của hơi thuốc lá buổi sáng sớm. Gịng sông Đắp La dưới chân đồi, tuy không nh́n thấy nhưng tiếng nước chảy xiết bao trùm cả không gian. Trong một thoáng, tôi cảm thấy yêu cái cuộc đời “tang bồng hồ thỉ” của người phi công. Nay đây mai đó trên khắp nẻo quê hương, tôi thấy ḿnh càng ngày càng gắn bó hơn với cái nơi chốn mà người ta gọi là “Tổ quốc.”

Khuôn mặt đại úy Nhơn có dấu buồn phiền mệt mơi khi đầu điếu thuốc được rít lên:
-Ông Tám kêu em về. U-17 cất cánh rồi, sắp sửa đáp bây giờ.
Tôi trả lời tỉnh bơ:
-Tù là cùng chứ ǵ.
-C̣n phải nói, tù là cái chắc rồi thằng em. Nhưng tù cái không đáng tù mới là đáng nói.
Tôi chẳng thấy buồn phiền ǵ cả, lính mà:
-Em quen rồi anh Nhơn. Ông đại úy Tới coi tướng em nói số mày không đeo nổi cái long trung úy. Thiếu úy là “Danh phận tột đỉnh” rồi.

Đại úy Nhơn bỗng bật cười:
-Mày chưa bị xuống Chuẩn úy là may. Nhiều khi tao tự hỏi tại sao quân đội lại để cho một thằng ba gai như mày đeo lon thiếu úy, những thằng ngổ nghịch như tao đeo lon đại úy.

Cả hai chúng tôi cùng cười. Tiếng cười như che lấp cả núi rừng chung quanh. Khi chúng tôi quay vào, vừng thái dương vừa từ từ ló dạng. Cả không gian, cả bầu trời bừng lên một sức sống mănh liệt. Rạng đông ở quê hương ḿnh đẹp đẽ và hùng dũng làm sao.

Sáng hôm đó, tôi về lại Nha Trang. Trước khi đi, tôi cũng không gọi điện thoại cho mấy ông Lôi Hổ để từ giă. Tôi biết họ rất tốt nhưng sẽ chẳng giúp ǵ được cho tôi. Mỗi quân chủng đều có một đường lối làm việc riêng. Hơn nữa, hôm qua trước khi cất cánh tôi đă suy nghĩ kỹ và sẵn sàng chấp nhận tất cả những ǵ sẽ xảy đến cho ḿnh...

Khi leo lên tàu giă từ Quảng Đức, tôi vẫy tay chào đại úy Nhơn và chẳng hề cảm thấy hối hận chút nào mà trái lại, c̣n cảm thấy hănh diện nữa. Tôi đă sống như một người có trách nhiệm như thân phụ tôi đă dạy.

Vào tŕnh diện ông Tám, tôi tỉnh bơ đưa tay lên chào mà không hề thấy sợ sệt hay mặc cảm ǵ cả. Ông mời tôi ngồi, nói chuyện với tôi bằng một giọng nhỏ nhẹ làm tôi hơi ngạc nhiên. Ông hỏi tôi chuyện ǵ xảy ra. Tôi kể lại mọi chuyện rồi kết luận:
-Thưa thầy, (tục lệ của phi đoàn quan sát gọi người dạy bay ḿnh là thày), chính tôi đề nghị bay giúp họ. Họ không có ép hay năn nỉ ǵ cả. Tôi thấy cần bay phi vụ đó nên tôi bay. Đơn giản như thế thôi. Bây giờ th́ tôi chấp nhận mọi h́nh phạt của thầy.

Tôi nh́n thằng vào mặt ông Tám mà nói như thế. Lần đầu tiên, tôi thấy ông có vẻ hơi bối rối. Nhưng ông nắm được thế thượng phong ngay:
-Chuyện anh làm có thể... đúng. Nhưng anh nghĩ coi, quân đội sẽ như thế nào nếu ai muốn làm ǵ th́ làm. Phi công muốn cất cánh th́ cất cánh, lính thiết giáp muốn lái xe tăng đi đâu th́ lái vân vân. Nếu ai cũng như thế th́ làm sao có thể điều hành và chỉ huy một tập thể to lớn như quân đội được...

Lại bài mo-ran cũ rích mà lúc ấy tôi chẳng c̣n muốn nghe nữa. Dĩ nhiên là ông ta nói đúng, nhưng bây giờ tôi không muốn ngồi đây để nghe giảng hay cải lư với ông ta. Mẹ, trước sau ǵ cũng đi tù, tôi muốn đi tù càng sớm càng tốt. Tôi cảm thấy mệt mơi. Sau hàng trăm phi vụ hành quân ở Quảng Đức gần tháng qua, tôi muốn nghỉ ngơi, muốn ngủ một giấc thật dài dù là ở Cải hối Thất hay ở đâu. Ít nhất, ở trong tù Nha Trang, tôi không sợ bị ăn đạn pháo kích của giặc. Tự nhiên, tôi đâm liều:
-Trước sau ǵ tôi cũng đi tù, thầy cho tôi đi sớm chừng nào tốt chừng đó. Tôi mệt mơi quá rồi, không có th́ giờ ngồi đây để nghe giảng...

Trung tá Tám như khựng lại sau câu nói liều lỉnh của tôi. Phi đoàn tôi chưa có ai nói chuyện với xếp lớn kiểu này. Nhưng con người có sức chịu đựng của nó.
Suy nghĩ một lúc, ông nói:
-Được, tôi sẽ cho anh đi tù...
Câu tiếp theo sau làm cho tôi giật nẩy ḿnh:
-Tôi đă nói anh là một người có tâm hồn và tài năng. Tôi đă không lầm.

Tôi chưa biết nói ǵ th́ ông tiếp:
-Nói thật với anh rằng hôm qua nếu tôi là anh, th́ tôi cũng làm như anh mà thôi. Anh xứng đáng là một phi công tài giỏi của Không Quân. Nhưng, với cương vị là phi đoàn trưởng của anh, tôi phải phạt anh. Phạt nhưng rất phục.

“Phục cái kiểu ... mẹ ǵ lại bắt tôi đi nhốt,” tôi nói với ḷng ḿnh như thế và đứng lên đi ra, chẳng muốn nói ǵ thêm nữa.

Ra khỏi phi đoàn, tôi leo lên chiếc xe díp của Quân Cảnh đă đợi sẵn bên ngoài. Ngồi trên xe trực chỉ Cải Hối Thất sư đoàn II Không Quân, tôi lẩm bẩm: “Mẹ, lại những chiếc xe díp...”

Sáng hôm sau, tôi được thả ra kèm một sự vụ lệnh đi phép 5 ngày...

Đó là lần thứ tư và cũng là lần ủ tờ cuối cùng của tôi. Nhưng như đă nói, lần này, khác hơn những lần trước, tôi lừng lửng bước vào Cái Hối Thất, đầu ngẩng lên cao, ḷng cảm thấy sung sướng, không hề hối hận, không chút ǵ buồn phiền...

Đó là một lần rất ít trong cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường ngắn ngủi của tôi, tôi cảm thấy đă làm một việc ǵ thật sự cho quê hương đất nước. Nếu phải bắt đầu làm lại từ đầu, tôi cũng sẽ không ngần ngại làm y như cũ.

Ngày hôm sau, tôi cũng quên không gọi lên biệt đội xem có ai tặng tôi cây AK không. Và tôi cũng chẳng bao giờ có dịp gặp lại vị đại úy Nha Kỹ Thuật tận tâm nọ...

Mười mấy năm sau trên đất khách, tôi hy vọng người đại úy ngày nọ của Nha Kỹ Thuật, nếu trời c̣n thương để cho đại úy không tự sát ngày 30 tháng 4, hay đă không bị kẻ thù giết chết trong các trại tù, và vượt biên được sang thế giới tự do này, nếu đọc được bài này, không hiểu đại úy c̣n có nhớ đến một buổi trưa ngút ngàn khỏi lửa ngày nào tại quận lỵ Quảng Đức quê ḿnh? Tôi chẳng dám đ̣i cây AK đại úy đă hứa đâu, chỉ muốn tỏ một chút ḷng ngưỡng mộ đối với đại úy, với anh em Nha Kỹ Thuật. Nếu đại úy đọc được những hàng chữ này, th́ dù có cách trở xa xôi, dù tâm hồn đă héo hon tàn tạ sau mười mấy năm đau thương tủi nhục, xin hăy cùng tôi cất lên tiếng cười cho một chút quá khứ đáng hănh diện. Chúng ta là những người trài sinh nhằm thời loạn, đành phải mặc áo nhà binh để bảo vệ non sông tổ quốc. Tôi biết đại úy cũng như tôi, chúng ta nào có thích ǵ cái tṛ chơi lửa đạn, mê ǵ cái bông mai vàng trên cổ áo với số lương tháng không bằng một ngày làm việc của anh tài xế taxi. Ngày xưa, trong cơn binh lửa, chúng ta là những kẻ bị thiệt tḥi nhiều nhất. Ngày hôm nay, tàn cuộc binh đao, chúng ta lại là những kẻ bị trả thù tàn nhẫn nhất, bị hành hạ và lăng nhục nặng nề nhất. Hàng trăm thứ tội đều được đổ lên đầu chúng ta, gọi chúng ta bằng những danh bỉ ổi hèn hạ nhất như “nợ máu với nhân dân.” Nợ ǵ khi chúng ta đă bỏ hết tuổi thanh xuân quư giá đi nằm gai nếm mật, băng rừng lội suối, ngủ bờ ngủ bụi ngày này qua tháng nọ để ǵn giữ cho xóm làng được yên vui, cho trẻ thơ được rộn rả tiếng cười, cho buổi họp chợ ban mai được yên lành trong nắng sớm, cho mái chùa cong cong c̣n được gióng lên những hồi chuông tín mộ, cho ngôi giáo đường thành phố c̣n nhịp nhàng vang lên những bản thánh ca nghe dịu dàng thanh thoát như những tiếng hát của thiên thần?

Nợ ǵ đây? Đồng bào miền Nam ḿnh chắc cũng đă thừa biết ai nợ ai rồi...

Nếu c̣n có thể khóc được sau tiếng cười vừa rồi, thưa đại úy, xin hăy khóc lên không phải cho chúng ta nhưng cho hơn một triệu anh em đồng đội của chúng ta đă anh dũng ngă gục dưới cờ, chết thay cho cả dân tộc. Chính những sự hy sinh cao cả này của đồng đội mà chúng ta không thể để mất niềm tin. Chúng ta không được để những cái chết cao cả đó trở thành vô nghĩa. Chúng ta sẽ không bao giờ sao lăng cái sứ mạng mà tổ quốc và dân tộc Việt Nam đă long trọng giao phó: Ngày xưa là giữ ǵn và bảo vệ non sông tổ quốc và bây giờ là quang phục lại quê hương. Theo Kinh Dịch, trong đại họa là cái mầm của đại phúc, trong tận cùng thống khổ là bắt đầu của thời đại an vui sung sướng. Chúng ta phải vững niềm tin. Chúng ta đều đă thật sự trưởng thành trong nước mắt, trong tủi nhục, trong đau thương thống khổ cùng với quê hương và dân tộc ḿnh. Càng bị sĩ nhục, càng bị hành hạ, càng bị khinh bỉ, chúng ta càng trở thành những chiến sĩ, những cán bộ tài giỏi cần thiết cho công việc quang phục quê hương sau này...


Kính thưa quí vị,

Tôi vừa kể lại cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường của ḿnh, rất chân thành, không dấu diếm những hèn mọn, không khoe khoang quá đáng những cái hay. Tôi có đủ can đảm của một người lính để chấp nhận ḿnh là kẻ thua trận, xứng đáng bị lăng nhục, bị chê trách, bị chửi bới. Tôi không có ǵ nói để biện ḿnh cho tôi cả. Bây giờ, mỗi lần nh́n thấy chim bay trên trời, ḷng tôi cảm thấy đau xót và tiếc nuối vô cùng vô tận. Không phải tôi tiếc nuối những giây phút lồng lộng giữa trời xanh bát ngát v́ bên Mỹ này, chỉ cần bỏ ra 25 đô la một giờ là tôi sẽ mướn được một chiếc phi cơ c̣n đẹp hơn chiếc L-19 của tôi ngày xưa nhiều, tha hồ và vung vít, tha hồ mà nhào lộn. Cũng không phải tôi tiếc nuối v́ đă mất đi cái mác “Thiếu úy phi công” trong bộ đồ bay màu xanh da trời với cái khăn quàng màu trắng nơi cổ và cây Colt lủng lẳng bên hông. Tôi đau xót và tiếc nuối thật t́nh, ḷng tôi héo hon phiền muộn v́ biết ḿnh đă phần nào chịu trách nhiệm trong việc làm mất đi cái ṿm trời vô giá của tổ quốc mến yêu. Cho cái thuở xa xưa, dù đă được giáo dục đầy đủ, được quân đội cưng chiều ưu đăi, tôi đă ít khi nào biết hết ḷng tận trung báo quốc. Cho cái tuổi trẻ yêu dấu đă âm thầm vĩnh biệt tôi ra đi măi măi không bao giờ trở lại. Và, thật sâu trong đáy trái tim rướm máu của một người phi công lưu lạc, tôi đau đớn tiếc thương cho những chiến sĩ của một quân đội kiêu hùng đă nằm xuống, chấp nhận chết thay cho cả dân tộc, trong đó có tôi.

Mỗi năm, vào độ Xuân về, khi cầm nén hương đứng trước bàn thờ tổ quốc, nh́n lá cờ vàng 3 sọc đỏ uy nghiêm giữa hương khói ngút ngàn, hai hàng lệ của tôi cứ tuôn tràn ra măi không sao cầm được. Tôi thấy h́nh bóng của một triệu người anh em đồng đội tôi, trong đó có em ruột tôi, có vợ chồng chú Bốn tôi chập chờn ẩn hiện sau lá cờ đó. Và năm nào cũng thế, tôi đều thề với trời đất rằng sẽ dùng hết quăng đời c̣n lại của ḿnh để phụng sự tổ quốc. Tôi biết bây giờ ḿnh đă già, thêm nợ thê nhi chồng chất, ắt khó mà cầm súng được. Nhưng tôi c̣n ng̣i bút, c̣n lá phiếu để đi bầu, c̣n nhiều... tài vặt, và quan trọng hơn cả, tôi c̣n một ư chí sắt đá trong ḷng ḿnh.

Người ta bảo là chúng ta đă thua giặc không phải trên chiến trường ở Việt Nam mà tại Hoa Thịnh Đốn, vậy th́, với một triệu người Việt Nam di tản ở đây, tại sao chúng ta sẽ không thắng được chúng cũng ngay tại Hoa Thịnh Đốn này?

Để kết luận, tôi xin viết lại một đoạn trong bài diễn văn của Thủ tướng Winston Churchill đọc trước quốc hội Anh ngày 4 tháng 6 năm 1940, sau cuộc rút lui thảm bại và ô chục của quân đội Anh tại bờ biền Dunkirk. Trong những ngày lịch sử tăm tối đó, thật tăm tối và tràn đầy tủi nhục như chúng ta bây giờ, con sư tử lừng danh của Anh Quốc đă rống lên thảm thiết với hàng nước mắt chảy dài trên má như sau:

“We shall go on to the end. We shall fight on the seas and oceans... We shall defend our country, whatever the cost may be. We shall fight on the beaches, we shall fight on the landing ground, whe shall fight in the fields and in the streets, we shall fight in the hills; we shall not surrender. We shall never surrender...”

Hôm nay, trong những ngày tăm tối u buồn của quê hương Việt Nam, hỡi những người Việt Nam lưu lạc, xin hăy cùng tôi nói với ḷng ḿnh như thế và xin hăy giữ vững niềm tin...

Trường Sơn Lê Xuân Nhị .


 


VĂN CHƯƠNG

Cây viết Bất Khuất

Thuyền đời
Highway of Heroes
Nắng ấm quê hương
Truyện dài Bất Khuất
Thuyền đời ơi !
Những thằng chúng tôi
Bài thơ trên đồi Bác sĩ Tín
Viên đạn vang rền
Chuyện t́nh trái ngang
Khối diễn hành
Băi tập
Lễ măn khóa
Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Hồi tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Dọc đường gió bụi
T́nh Bất Khuất
Ngày xưa thân ái
Tôi đi lính
Bất Khuất
Quan Âm Tây Du Hí truyện
Làm trong sáng tiềng Việt
Hạ cờ tây
Thù dai
Kỷ niệm khó quên
Trận cuối trong đời lính của tôi
Khúc hát Quân Hành
Một nỗi đau
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Trận Ô-Căm
Một lần vĩnh biệt
Một lần đi
Chuyến đi cuối năm
Nhớ về mái trường xưa
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Những ngày tháng không quên
Tự do ơi, tự do!
V́ hai chữ Tự Do
Ngh́n trùng cách biệt
Thầy Chín
Để nhớ để quên


Người lính VNCH

Soái hạm HQ5 và trận hải chiến Hoàng Sa
Ngày 19-01 Kỷ Niệm ngày Hoàng Sa nhuộm máu
Đi vào ḷng địch: Câu chuyện thật của người Nhái HQ VNCH
Người bạn 101
Năm tháng tuổi thơ thuở nào
Lực lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ Hải Quân VNCH
Đối diện tử thần
Một thời để yêu
Phi Công thời chiến
Người con dâu nước Mỹ
Tưởng bỏ anh em
Đành bỏ anh em
Mai
Cuộc tuyệt thực ở trại Cổng Trời
Một đời binh nghiệp hai màu Mũ
Biệt Hải trên vùng biển băo tố
Chuyện người lính trinh sát
Nhan sắc cư tang
Niềm vú quân trường
Sự trịch thượng
Hộ tống hạm HQ11 & Những ngày biến loạn tháng Tư đen
Bạn tôi, những SVSQ khóa 2 Học Viện CSQG
Cuộc sống của người lính chiến ĐPQ và NQ
Sông Mao, Ngày tháng cũ
Tự truyện của một phi công

Chập chùng tủi nhục
Tâm sự người lính

Nén hương tưởng nhớ bạn Dương Quang Ngọc
Một mai giă từ vũ khí
Mối t́nh đầu
T́nh lính
Đời lính
Tàn cuộc hoa này
Nó và Tôi
Viên ngọc nát
Những năm dài qua đi... hội ngộ
Ngày Quân Lực : Lời thú tội
Nhớ An Lộc - Chuyện người Thương Binh bị bỏ quên
Nghĩ về người vợ lính
Chuyện t́nh với chàng cựu Không Quân Y 2 K
“Hát Ô” qua Mỹ
Anh hùng tử - Khí hùng bất tử
Thằng lính bạc t́nh
Cuối đường
Đó đây trên quê hương
Here and There In The Homeland
Người c̣n nhớ hay người đă quên
Những ngày tù chung với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nh́n Của Người Ngoại Quốc

Đêm liêu trai
B̀NH-TUY, những ngày cuối cùng...
T́nh Anh Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và ḥa b́nh
Tây Ninh, chút c̣n lại trong ḷng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc sống quả phụ
Thượng Tọa Thích Quang Long
4 ngôi mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi ḍng về “Cỏ Thu Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi anh Tŕu mến
Thiên bi hùng ca QLVNCH
Để nhớ lại những ngày Mùa Hè Băo Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 - LĐ81 BCD
Trận đánh cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù cộng sản...
Sông Mao, phi vụ ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của tôi...
Khóc một ḍng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện t́nh của một Phi Công
Hai v́ sao lạc
Tôi thương nhớ vợ tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Chinh nhân và người t́nh
Tôi vào học viện Cảnh Sát Quốc Gia
Cảm nghĩ của một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái B́nh Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Đội Thiên Nga
Viết về ngày QL 19/6/2011
Người không nhận tội  
Chào cô ... em gái Biệt Cách Dù
Chuyện t́nh chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ hỏa lực 6  Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Người không nhận tội
Tháng 4 xót xa
T́m lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi hờn di tản
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Găy súng
Chuyện người Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ H́nh Của Chính Ḿnh
Đại Bàng Gảy Cánh Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy c̣n đâu?
Vinh danh Tướng Đỗ Cao Trí
Trung Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân trường
Anh trai Biên Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời lính...
Câu chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Ḍng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa qua những t́nh khúc bất tử của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi - Chúng con vẫn c̣n đây
Khi người ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hăy thắp cho anh một ngọn đèn
Chiếc áo phong sương t́nh anh nặng
Người lính VNCH trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những gịng sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư t́nh của người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh "homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nh́n được xác chàng
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư t́nh
May mà có em
Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ
May mà có em đời c̣n dễ thương
Gói quà đầu năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba ḍng nước mắt
Những xác chết trên mănh đất chữ "S"
Thân phận người lính găy súng
Chuyện vượt ngục ở trại Gia Trung ...
Những mảnh đời dang dở - phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, phần 6, phần cuối
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời chinh chiến
Vược ngục
Chuyện t́nh khoai lang
Tâm t́nh người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực 19-6-73
Vinh danh người lính VNCH

Linh tinh

Dị mộng
Nhà thơ Hàn Mặc Tử
Tập thơ "đôi hồ" và một thiên diễm t́nh
Về Quê
Ông già bơi rác
Nhớ thời trường cũ Chu Văn An
Người chú họ của tôi
Tôi bị bắt
Nhớ lắm… những mùa Thu
Những chuyện trời ơi !
Người đồng hương
Bên đời hiu quạnh
Việt Cộng con
Phượng hồng vào Hạ
Sức mạnh của cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại
Giai thoại văn chương
Kỷ niệm nỗi trôi cùng trí nhớ
Bà xă đai-ét
Chuyện kể: Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi t́m Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất t́nh
Dấu "Hỏi Ngă" trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi Tây
Ư yêu đương
Đêm qua sân trước nở cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
T́nh... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ t́nh
Mùa Thu qua thi ca  
Phụ nữ Việt Nam qua Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi ḍng sông Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi t́m tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những giao thoại văn chương
Xin hăy giúp tôi
Con c̣n nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ t́nh
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương  
Đường đi không đến
Xương trắng Trường Sơn
Về lại cố hương
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà ṇi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô chở mùa xuân
Em đi để lại con đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con đường không lối thoát
Những bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái t́nh
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ c̣n một ngày để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một ḿnh
Hăy bế em ra khỏi cuộc đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Ḥa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc t́nh
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nh́n những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời c̣n vui v́ có chút ṭm tem
Đôi mắt Phượng
Ngựi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
T́nh già
Buổi chiều ở Thị trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân t́nh
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông bạn già năm xưa - English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài ṿng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
T́nh người
Hồi kư của một người Hà Nội
T́nh nghĩa, nghĩa t́nh
Đôi đũa
Gịng đời... và hồi âm gịng đời...
Không cho phép ḿnh quên
Thảm sát trên đảo Trường Sa
Em tôi
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
T́nh ngây dại