NHỮNG MẢNH ĐỜI DANG DỞ - Phần 4


TRƯỜNG PHƯỚC - LA VANG - NHƯ LỆ

Thánh địa La Vang với cây đa và đoạn đường thánh giá diễn tả ngày Chúa Giê-Su chịu khổ nạn, đă có một thời hưng thịnh, v́ đă từng là một địa điểm hành hương của các tín đồ Thiên Chúa Giáo từ cuối thập niên 50's đến đầu thập niên 70's, giờ đây chỉ c̣n là một di tích hoang tàn, khiến người ghé qua không tránh khỏi bùi ngùi, cảm xúc...


Giữa tháng 6/73 từ Triệu Phong, Chợ Săi và sông Vĩnh Định, đơn vị tôi được di chuyển đến trung tâm huấn luyện Đống Đa để được (hấp) theo một khóa học bổ túc khoảng 2 tuần lễ, cùng lúc với đơn vị bạn là TĐ 11 Nhảy Dù.
Trở lại quân trường là điều mà các người lính không ưa thích mấy, nhưng lại là một điều hữu ích cho các đơn vị. Chúng tôi được học ôn lại những căn bản trong kỹ thuật tác chiến, được thực tập nhị thức hành quân Thiết giáp Bộ binh, thực tập xin Không yểm, Pháo yểm và Hải yểm.
Thời gian này thật cần thiết để các sĩ quan trong đơn vị quen biết nhau qua các bài học tham mưu, tâm lư chiến và t́nh báo.
Ngày măn khóa chúng tôi có một cuộc hành quân gần như thật, đó là cuộc hành quân tùng thiết với chiến xa, pháo binh và phản lực cơ yểm trợ, sử dụng toàn bom và đạn thật...

Sau khi rời trung tâm huấn luyện Đống Đa, tiểu đoàn 7 di chuyển đến làng TQLC. Làng này nằm ở phía Tây Bắc cầu Bến Đá khoảng 2 cây số , trong khu vực thôn Diên Sanh, xă Hải Trường, trên lộ tŕnh từ quốc lộ 1 đến núi Trường Phước.
Một tuần sau chúng tôi vào thay thế tuyến cho TĐ 2 trong khu vực Trường Phước.
Các trung đội đóng quân biệt lập, dọc theo lộ tŕnh, trung đội này cách trung đội kia khoảng hơn 1 cây số. Trung đội 3 đóng trên một ngọn đồi ở phía Tây của đại đội cách khoảng 200 mét và trung đội 4 pḥng thủ chu vi đại đội.

Chúng tôi phải tham dự một cuộc bầu cử bán phần Thượng Nghị Viện. Tôi nhớ măi v́ được nhiệm vụ phải nói khéo để các người lính bầu cho các liên danh thân chính.
Trong lúc tập họp để nhắc nhở trung đội 3 về 2 liên danh thân chính mà tôi được chỉ thị bầu phiếu cho, khi tôi đang cố lựa lời nói khéo cho các liên danh này th́ Trung sĩ Dần - Tiểu đội trưởng tiểu đội 1 lên tiếng:
- Thưa Thiếu úy, tôi có ư kiến.
- Vâng, anh Dần cho biết ư kiến.
Trung sĩ Dần đứng dậy, quay nh́n các anh em trung đội 3 và nói:
- Theo Thiếu úy th́ anh em nên bầu cho 2 liên danh này, c̣n liên danh thứ 3 th́ tùy ư anh em, anh em đồng ư không?
Tất cả các người lính thuộc trung đội 3 trả lời:
- Đồng ư!
Thế là chẳng c̣n ǵ để nói thêm nữa, tôi cho anh em tan hàng. Sau đó huynh trưởng Nguyễn Lai hỏi tôi:
- Ông nói chuyện ǵ mà nhanh quá vậy Minh?
- Anh em đồng ư với những ǵ tôi đề nghị rồi huynh trưởng, làm sớm nghỉ sớm mà.

Một buổi đang nằm hút thuốc sau bữa cơm chiều, Binh I Tân - Hiệu thính viên trung đội 3 mà tôi vừa chọn khi tiểu đoàn hấp ở trung tâm huấn luyện Đống Đa, đến gặp tôi với một bức thư trên tay nhờ tôi trả lời giùm.

Lá thơ bắt đầu;

"Ông Tân!
Đọc thư ông tôi liên tưởng đến một gương mặt thật vô duyên, với nụ cười để lộ ra hai hàm răng mất trật tự..."

Tôi ngó vào mặt Tân và hỏi:
- Mày trả lời thư cô ta mấy lần rồi?
- Chỉ có một lần thôi Thiếu úy.
- Có phải mày gọi cô ấy là "Bà" không?
- Ông thấy đó Thiếu úy, trong thư bà ấy gọi tôi bằng Ông.
- Mày đúng thiệt là vô duyên, chẳng lẽ người con gái viết thư cho người con trai chưa quen lần đầu tiên mà lại gọi là "Anh" ngọt xớt à!
Nh́n vào b́ thư tôi thấy địa chỉ cô ở quận 3 - Saigon. Tên cô là Hạ Vũ, có lẽ đó là bút hiệu th́ đúng hơn.
Tôi viết thảo cho Tân một bức thư.

"Hạ Vũ!
Nhận được thư Hạ Vũ tôi rất vui, càng đọc càng có cảm t́nh với Hạ Vũ v́ Hạ Vũ là một người thành thật. Những ước mơ của Hạ Vũ là những ước mơ của tuổi mới lớn, là những điều mà tôi đă trải qua nhiều năm trước khi c̣n ngồi trên ghế nhà trường...
Trước khi dừng bút, tôi xin vui vẻ nhận Hạ Vũ là cô em gái hậu phương. Hy vọng rằng trong một ngày rất gần đây sẽ có dịp gặp em tại Saigon để hàn huyên, tâm sự và được chiều chuộng cô em nhí nhảnh, dễ thương.
Chúc em một giấc ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp.
Anh
Nguyễn Văn Tân"

Hai kỳ tiếp tế (10 ngày sau) thư hồi âm từ cô bé Hạ Vũ được bắt đầu bằng hai chữ “Anh Tân”, và sau đó họ hẹn gặp nhau đi dạo phố Saigon khi tiểu đoàn về hậu cứ.

Đầu tháng 7, thằng Tuấn - Trung đội trưởng trung đội 2 đi phép, tôi phải lên thay thế nó v́ trung đội 2 nằm xa nhất trên tuyến đường, mất 30 phút đi bộ từ đại đội đến trung đội 2. Thời gian này Bửu trở lại đại đội sau khi diễn hành ngày Quân Lực 19/6 để chờ đợi được chuyển qua đại đội 1.

Mùa hè, những đồi sim thấp trong khu Trường Phước đầy những hoa sim tím, những quả sim ăn vào tím cả lưỡi và ngọt lịm. Vừa đi vừa hái sim dọc đường, vừa ca bài hát "Những Đồi Hoa Sim" của Dzũng Chinh mà quên cả đường dài.

Từ trung đội 2 theo con đường đi tiếp th́ sẽ tới một ḍng suối mà chúng tôi tắm giặt và lấy nước nấu ăn. Một hôm các anh lính cho biết có gặp các anh bộ đội miền Bắc xuống lấy nước, nhưng v́ đang trong thời kỳ ngưng chiến nên cả hai bên chỉ nh́n nhau. Những lần sau khi xuống suối họ đi hai người, một người mang theo súng. Tôi quyết định cho trung đội đi lấy nước ở một điểm khác, chỉ thị các người lính kiểm soát kỹ lưỡng và gài lựu đạn đoạn đường này để đề pḥng Bắc quân có thể vi phạm và xâm nhập tấn công.
Cuối tháng 7 TĐ về Saigon. Sau hơn 1 tháng trời dưỡng quân, đến đầu tháng 9 tiểu đoàn 7 TQLC trở lại hành quân. Trong lúc ở Saigon tôi rủ anh Huyền và Mẫn ghé thăm gia đ́nh một người quen ở Thủ Đức. Bác là Giáo sư Pháp Văn tại trường Pétrus Kư đă về hưu, nghiên cứu tử vi và tướng pháp, có một người con trai là sĩ quan pháo binh TQLC đă hy sinh trong trận tái chiếm cổ thành.
Trong khi chờ chú em trai vào thông báo cho bác biết có chúng tôi đến thăm, thằng Mẫn ṭ ṃ mở một quyển tập để trên bàn ngồi đọc. Đúng ngay cái đoạn bàn về tướng số một người có h́nh dạng giống như nó "Người cao, chân dài, tay ngắn là tướng đoản mệnh...". Nó chỉ cho tôi đọc đoạn này, trên gương mặt nở một nụ cười buồn. Trang tiếp theo bàn về tướng của một người có gương mặt dài như anh Huyền, thằng Mẫn vừa đọc vừa cười nắc nẻ.

Không ngờ đó là những điềm ứng trước, cả hai đă hy sinh sau đó không lâu v́ những tướng đoản mệnh.

Từ Saigon, chúng tôi ra hành quân và trở lại làng TQLC. Đầu tháng 10/73 tiểu đoàn 7 đến La Vang thay tuyến cho TĐ 8 TQLC. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng tại đồi dương, gần ngă ba Long Hưng, nơi đă là tuyến xuất phát của TQLC khi tái chiếm Quảng Trị và Cổ Thành năm trước.
Di chuyển một hàng dọc từ điểm đổ quân ở cánh B băng qua hai ngọn đồi thấp, vài ḍng suối mùa, chúng tôi đến bờ một con suối khá rộng nhưng cạn nước. Bước trên những ḥn đá mà các đơn vị trước đă đặt trên ḷng suối theo từng bước đi để khỏi bị ướt giày, chúng tôi đặt chân đến ban chỉ huy đại đội.
Trung đội 4 của Hùng (thay thế cho Mẫn đi học khóa “rừng núi śnh lầy” chưa về) nằm dọc theo bờ suối giữ an ninh và pḥng thủ khu vực đại đội. Tiếp theo là trung đội 3 và trung đội 2 dàn tuyến đối mặt với Bắc quân.
Từ trung đội 2 băng qua một cái lạch nhỏ và một khoảng đầm lầy trên những cây cột nhà lót đường th́ tới cái tiền đồn được pḥng thủ chu vi của trung đội 1. Nh́n địa thế hiểm ác của cái tiền đồn này, ai cũng biết muốn giữ được chắc các đơn vị bạn trước kia đă phải tốn biết bao nhiêu xương máu. Trung đội pḥng thủ một khu vực gần như là một ṿng tṛn, với đường chu vi khoảng chừng 100 mét.
Ngôi làng nơi đại đội đóng quân có tên là Như Lệ, cái tên nghe quá buồn. Những ngày mưa, đường trơn trợt, ướt át, trời bắt đầu trở lạnh nên chẳng ai muốn ra ngoài. Nằm nghe mưa rơi trên những tấm tôn thủng rả rích, từng giọt nước tí tách, rầu thúi ruột và nhớ nhà.

Ngày đặt chân đến Như Lệ quang cảnh cũng tương tự như Chợ Săi - Triệu Phong. Các anh lính miền Bắc đứng bên hàng rào hỏi thăm và mời chúng tôi sang một cái cḥi mà họ gọi là "Nhà Ḥa Hợp", cũng vẫn cái bảng treo trước cửa với hàng chữ "Không có ǵ... cả".

Anh Lai, anh Huyền và tôi bước vào căn nhà. Sau khi chào và hỏi thăm nhau, chúng tôi cả hai bên cùng ngồi vào bàn và nói chuyện xă giao. Có một điều không biết là tiện hay bất tiện, tốt hay không tốt v́ những phù hiệu trên áo đă cho họ biết chúng tôi thuộc tiểu đoàn nào rồi, mặc dù chúng tôi đă mặc áo của các người lính không có cấp bậc. Riêng các anh lính Bắc quân th́ không thấy được ǵ trên quân phục của họ.
Họ mời chúng tôi nước trà, thuốc lá. Thuốc lá hiệu Tam Đảo, Điện Biên nội địa và Hoa Hồng của Trung Quốc.
Anh Lai đốt một điếu thuốc, kéo một hơi dài, tủm tỉm cười lên tiếng:
- Thơm mùi nhang quá!
Chúng tôi cười trong khi các anh bộ đội miền Bắc không hiểu ǵ cả.
Nói chuyện vớ vẩn, bâng quơ v́ chẳng có ǵ để nói lâu, chúng tôi kiếu từ ra về th́ các anh bộ đội miền Bắc lại theo phép lịch sự "như người Hà Nội" giữ khách và mời khéo:
- Các anh về chóng thế, khi nào rỗi mời các anh lại sang chơi nhé.

Từ tháng Mười kéo dài qua Tết là mùa mưa dầm, mưa lê thê. Mưa kiểu này mà nằm nhai gạo sấy rang (thay cốm) tẩm nước đường th́ hết nói. Trời mưa chẳng có ǵ làm th́ lại quanh quẩn Domino, cờ tướng và mong đến kỳ lănh lương.
Ngày phát lương là ngày chúng tôi tha hồ ăn uống. Ban quân lương đến cánh B phát lương cho các đại đội và có câu lạc bộ đến bán ḿ gói, thuốc lá, bia và các nhu yếu phẩm cho lính.

Từ cánh B đi về phía Nam một đoạn đường ngắn 10 phút là tới khu nhà thờ La Vang. Vào cuối thập niên 50's đến đầu thập niên 70's, nơi đây đă từng là một vùng thịnh trị, rất nhiều tín đồ đạo Thiên Chúa từ khắp miền Nam đến hành hương.
Tôi c̣n nhớ những năm cuối thập niên 50's, vé số Tombola được bán khắp nơi giá 2 đồng bạc thời đó để lấy tiền xây dựng khu thánh địa La Vang, và đường xe hỏa đồng thời được phát triển để phục vụ khách đến thăm vùng này.

Trước mặt nhà thờ là một đoạn đường được gọi tên là “đoạn đường Thánh Giá”, hai bên đường là những bức tượng diễn tả Chúa Giê-Su trong ngày chịu tội, đă găy đổ tan nát không c̣n nguyên vẹn. Cây đa đúc bằng bê tông cốt sắt, nghe nói là được xây ngay tại chỗ cây đa thật trước kia, nơi người ta tin rằng mẹ Maria đă hiện lên, nay chỉ c̣n trụi lủi thân cây mà thôi. Các cành được đúc bằng bê tông cốt sắt đă găy gục nát tan v́ bom đạn. Tượng đức mẹ Maria cũng chẳng c̣n nguyên vẹn, “Ôi! Sức tàn phá và hủy diệt của con người thật là ghê gớm!".
Ngôi thánh đường to lớn bị hủy hoại khắp cả bốn phía. Phần bên phải của ṭa giảng hoàn toàn sụp đổ từ nóc nhà thờ xuống tới mặt đất. Các ngôi nhà của tu sĩ và giáo dân giúp việc hoàn toàn bị san bằng. Những hàng cây khuynh diệp trồng quanh khu vực nhà thờ chẳng cây nào không mang thẹo thọ v́ đạn bom.
Các bạn và tôi đă thay phiên nhau chụp một số h́nh ảnh ở khu vực này, rất tiếc là sau ngày miền Nam sụp đổ, gia đ́nh tôi đă không c̣n giữ lại được tấm ảnh nào.

Tôi h́nh dung ra quang cảnh tấp nập trong những ngày lễ tôn giáo trước đây, hàng ngàn người đến hành hương và tham dự các khóa lễ. Bây giờ nơi đây hoàn toàn giá lạnh, hoang vắng, không có bóng dáng một tín đồ nào. Nh́n qua Cường đang làm dấu “Amen” mà không tránh khỏi những bùi ngùi, cảm xúc.

Chúng tôi rời khu thánh địa La Vang, thấy thấm thía nỗi thảm thương cơ cực của người dân Quảng Trị. Đến bao giờ và phải hao tốn bao nhiêu máu xương, của cải để xây dựng lại những nơi này?

Đầu tháng 11, đại đội tiếp nhận thêm các người lính mới bổ sung cho đơn vị, một số cựu tù binh, quân phạm, và một sĩ quan - Phước mập, đi bay với thằng Tuấn. Trung đội 3 nhận thêm các người lính mới, trong đó có Trung sĩ I Nhẫn - cựu tù binh, Hạ sĩ I Hào - Quân phạm v.v..

Tháng 12/73 sư đoàn tổ chức các khóa học bổ túc trung đội trưởng cho các sĩ quan. Tôi được chỉ định đi học đợt đầu tiên với 3 người bạn khác là Ḥa ở đại đội 1, Toàn ở đại đội 2 và Thành ở đại đội 4. Chúng tôi được đưa đến Bộ chỉ huy lữ đoàn 258 đóng tại Hội Yên để tham dự khóa học cùng với các sĩ quan trung đội trưởng ở 8 tiểu đoàn bạn. Khóa học kéo dài trong 2 tuần, thành phần huấn luyện viên là các chiến sĩ tài ba ưu tú từ các tiểu đoàn TQLC và các đơn vị yểm trợ như Pháo Binh, Công Binh, Thiết Giáp, Không Quân và Hải Quân...

Đại tá Ngô Văn Định - Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 258 khai mạc khóa học trong một nghi lễ đơn sơ nhưng đầy thân t́nh. Ông mong mỏi khóa học này sẽ giúp chúng tôi những điều cần thiết tối thiểu để khi trở lại đơn vị; với các kinh nghiệm thực tiễn quư báu từ các đàn anh, chúng tôi sẽ áp dụng các sáng kiến thích nghi để tiết kiệm xương máu đồng đội, phát huy khả năng của đơn vị và hoàn thành nhiệm vụ được giao phó tốt đẹp.
Chúng tôi lại được nghe thuyết tŕnh về các trận đánh tiêu biểu của đơn vị TQLC, về thế công, thế thủ, cách thức điều binh từ chính các sĩ quan chỉ huy tham dự trực tiếp các trận đánh đó như Thiếu tá Nguyễn Văn Sử, Trung úy Kiên Pek v.v..
Được sự đóng góp thêm của Đại tá Ngô Văn Định, Trung tá Đỗ Hữu Tùng, được tŕnh bày các kinh nghiệm bản thân của ḿnh để lớp học bàn thảo, đưa ra các phương thức để giải quyết trong các t́nh huống xấu. Chúng tôi đă được học biết bao nhiêu kinh nghiệm hay và quư báu để áp dụng sau đó trong đời lính...

Ngoài ra chúng tôi cũng được học thêm về công binh, pháo binh, thiết giáp và chống thiết giáp, liên lạc xin không yểm, hải yểm v.v.. Thời gian quá ngắn cho một khóa học nhưng đă đem lại cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm hữu ích không ngờ. Nếu không được tham dự các khóa học bổ túc như thế này, có lẽ việc điều quân phản ứng của chúng tôi sẽ kém nhạy bén. Chúng tôi học được cách nh́n sự việc dưới những góc cạnh, lư lẽ khác nhau. Học được cách ước định t́nh huống trước khi nó xảy ra, điều này làm cho chúng tôi tăng thêm sự tự tin vào khả năng của đơn vị khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ.

Cuối tuần lễ đầu vào ngày Chủ Nhật, một số các sĩ quan chúng tôi đi thăm khu nhà thờ hai nóc Thanh Hương - Điền Môn, nơi mà tôi sẽ trở lại sau này trong cuộc lui binh cuối cùng.

Chấm dứt tuần thứ nh́ là lễ măn khóa dưới sự chủ tọa của Thiếu tướng Bùi Thế Lân - Tư lệnh sư đoàn TQLC. Ông nhắc nhở chúng tôi hăy ứng dụng các điều đă học một cách thích hợp để phát triển khả năng sẵn có của đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.
Xe của tiểu đoàn đă chờ sẵn và đón chúng tôi trở lại đơn vị.

Tết năm đó đại đội thật vui, nhất là trung đội 3 với sự có mặt của các chị, vợ anh Xê - Trung đội phó, vợ anh Hào - tiểu đội đại liên. Chúng tôi có một cái tết thịnh soạn với các món ăn thượng hảo hạng từ những bàn tay khéo léo của các chị như Vịt tiềm thuốc Bắc của chị Hào, các món bánh lá, bánh đập... và nồi bún ḅ cay tóe khói của chị Xê, gốc người Huế, vừa ăn vừa hít hà, nước mắt nước mũi, mồ hôi chảy ra nhễ nhại v́ cái ǵ ăn vô cũng cay, cũng nóng.
Ngày đầu năm chúng tôi xông đất các anh Bắc quân ở nhà "Ḥa Hợp". Chúng tôi chúc Tết nhau. Họ mời chúng tôi thuốc lá, hạt dưa, và các loại kẹo bột, kẹo đậu phộng... (không ngờ rằng nhiều năm sau đó, mỗi lần Tết đến chúng tôi lại ngồi mong chờ những thứ này trong tù.)
Chúng tôi mời các anh ấy các thứ mứt, kẹo, bánh trái của miền Nam. Họ cứ xuưt xoa măi.
- Hàng ngoại đấy à các anh.
Thoạt đầu tôi không hiểu ư các anh ấy, sau mới biết họ tưởng là đồ nhập cảng. Những cái kẹo mứt măng cầu gói trong các loại giấy bóng kiếng đủ màu, hoặc những miếng mứt thập cẩm quá đẹp làm họ ngạc nhiên. Nhưng họ chỉ dám thử một cái. Không biết v́ thấy đẹp không dám ăn uổng quá hay v́ sợ có thuốc độc bên trong ?
- Do các chị vợ của anh em chúng tôi làm đó.
- Đẹp thế nhỉ!
- Khéo thế nhỉ!
Nghe những lời khen chân thành, mộc mạc của các anh lính Bắc quân lúc đó, tôi không nghĩ là họ khen thật, cho đến khi vào tù v́ thua cuộc chiến tôi mới biết rơ ràng là họ thành thật. Các người tù cải tạo thường bông đùa, chọc ghẹo họ luôn bằng cách khen nhưng thật t́nh là chửi xéo.

Rồi những ngày Tết cũng trôi qua, các thân nhân của những người lính cũng lần lượt ra về hết, và sinh hoạt của đơn vị cũng trở lại b́nh thường.
Sau ngày Tết trung đội 3 thay thế trung đội 1 ở vị trí tiền đồn. Bàn giao với anh Huyền xong, tôi đi xem lại vị trí đóng quân và cho vét lại giao thông hào ở các đoạn bị sụp lở v́ nước mưa.

Trung đội 3 pḥng thủ chu vi trong một h́nh gần như tṛn với đường kính khoảng hơn 30 mét. Hướng Tây và Tây Nam giáp mặt Bắc quân, hướng Đông của tiền đồn là một ḍng suối chảy về phía đại đội, hướng Bắc là một con lạch nhỏ nối tiếp với một băi lầy. Tiền đồn được nối liền với đại đội bằng một chiếc cầu khỉ bắc qua con lạch và những thân cây, gỗ tạp được dùng để lót qua băi lầy. Vị trí tiền đồn này rất nguy hiểm v́ gần như là "bốn bề thọ địch".

Đặc công cộng sản có lối đánh là ḅ theo các đường ṃn và các khe xâm nhập mà cái tiền đồn này hai mặt giáp địch, c̣n hai mặt kia lại là suối, lạch và đất thấp lầy lội.
Ngay sau khi bàn giao tuyến, tôi đă chỉ thị cho các tiểu đội vét lại giao thông hào và sửa chữa khu vực pḥng thủ.
Các anh Bắc quân kêu réo ầm ĩ lên:
- Này các anh làm ǵ thế, đào ǵ thế?
- Mưa lở đất, chúng tôi đắp lại thôi.
- Các anh làm thế là vi phạm đấy.
- Chúng tôi chẳng làm ǵ mà vi phạm.
Vừa làm vừa căi nhau, rồi th́ chúng tôi cũng sửa xong lại tuyến pḥng thủ chiều hôm đó.
Hạ sĩ Tâm, trước kia là Hiệu thính viên truyền tin, sau ra tiểu đội của Trung sĩ Phấn, trong lúc vét lại giao thông hào, thấy lộ ra một bộ xương người lính Bắc quân và trang phục c̣n sót lại. Anh tinh nghịch đặt chiếc xương sọ lên trên bờ giao thông hào và đôi dép râu gác lên trên đầu chiếc xương sọ, miệng th́ nói "Sinh Bắc Tử Nam". Các anh bộ đội miền Bắc la lên phản đối.
Nghe có chuyện, tôi bước đến nơi và nói với Tâm:
- Dẹp đi Tâm, người ta đă chết rồi, đừng làm vậy!
Sau đó tôi không biết Tân đă dấu cái xương sọ và đôi dép râu đi đâu.

Mờ tối hôm đó, khi tôi đang ngồi đọc sách ở dưới hầm th́ nghe như có tiếng người chạy huỳnh huỵch bên ngoài. Tiếng Binh I Chánh - Hiệu thính viên, đứng ngay cửa hầm gọi tôi:
- Thiếu úy, Thằng Tâm có chuyện, nó bị ma đánh.
Leo lên khỏi hầm, tôi chạy đến chỗ tiểu đội của Trung sĩ Phấn th́ thấy các người lính đang vây quanh Tâm ở một góc giao thông hào. Tân chúi đầu vào góc Tuyến không dám ngẩng lên.
- Anh Phấn, anh cho trói nó lại.
Người Tâm bê bết đất cát, đôi mắt lạc thần. Anh không dám chống cự khi hai người lính đến trói anh lại.
Tôi liên lạc báo cáo t́nh h́nh và xin giải giao Tâm vào đại đội v́ sợ nó lên cơn nửa đêm th́ nguy hiểm cho tính mạng nó. Hai anh lính giải giao Tâm vào đại đội trở về kể lại.

"Khi gặp Trung sĩ I Trần Ngâm thằng Tâm không dám nh́n mặt. Nó lấm la, lấm lét. Anh Ngâm dùng roi dâu quất lên người Tâm, nó la hét và lăn lộn trên mặt đất..."

Sáng sớm hôm sau Tâm được đưa về tiểu đoàn và sau đó được đưa ra quân y viện Nguyễn Tri Phương tại Huế để điều trị. Mấy tháng sau b́nh phục Tâm trở lại đơn vị th́ tôi đă ra toán CAP ở Hải Trường.

Một buổi tối đang ngồi đọc sách dưới hầm, cảm thấy thèm một điếu thuốc, tôi bước ra khỏi hầm đi dạo một ṿng, nói chuyện với các người lính, quên tắt ngọn đèn cầy đốt để đọc sách trong hầm.
Tiếng Binh I Chánh la thất thanh:
- Lửa cháy trong hầm Thiếu úy.
Tôi chạy trở lại th́ thấy lửa cháy sáng trong hầm.
- Lấy nước dập tắt đi.
Các người lính chuyền nước vào dập tắt ngọn lửa. Tàn lửa cháy loang lổ cái ba-lô và làm hư hại các đồ đạc bên trong, may là chưa bắt qua phát nổ đạn và lựu đạn. Sức nóng của lửa làm hư hại cái máy chụp h́nh OLYMPUS PEN DEMI của tôi.
Tối hôm đó tôi ngủ lạnh để trả cái lỗi bất cẩn của ḿnh. Sáng hôm sau phải giặt giũ tất cả quân trang, quân dụng c̣n xài được và vất đi các thứ đă bị cháy hư hại. Kiểm soát lại th́ thấy thiệt hại khoảng 50%.

Hai ngày sau, một công điện bất ngờ từ tiểu đoàn chuyển đến. Tôi được chỉ thị ra thay thế Trung úy Lê Văn Minh thuộc đại đội 4 trong chức vụ trưởng toán CAP (huấn luyện) tiểu đoàn 7 TQLC ở xă Hải Trường.
Xếp tất cả các đồ đạc c̣n lại vào chiếc ba-lô cháy loang lổ của ḿnh. Thằng Mẫn đang ngồi chơi với tôi lên tiếng:
- Lấy cái ba-lô của tao đi Minh, mày vác cái ba-lô này ra làng, họ tưởng mày "ăn xin" đó.
Tôi bật ra cười lớn, thầm nghĩ "Đúng là cái số ăn mày!". Chúng tôi trao đổi cho nhau một số đồ đạc, và sáng hôm sau "Ba-lô lên vai", tôi rời đại đội lên tŕnh diện tiểu đoàn để đi nhận nhiệm vụ mới.

Đứng trên dốc khoảng lưng chừng đồi, nh́n xuống làng Như Lệ, nghe tiếng các ḍng suối mùa đang chảy róc rách đâu đây. Khu vực đại đội 3 đóng quân nằm yên lặng dưới chân đồi, phía bên kia ḍng suối. Đưa tầm mắt trải dài tới các trung đội bạn 1, 2, dừng lại nơi cái tiền đồn lẻ loi đơn độc của trung đội 3, nhớ lại các kỷ niệm tràn đầy sau hơn một năm tôi sống cùng đơn vị.

Một h́nh ảnh toàn cảnh hiện ra trước mắt làm tôi chợt thấy bâng khuâng. Trước kia ở góc độ này, nếu nh́n xuống làng Như Lệ là một h́nh ảnh thật thanh b́nh, với những ḍng suối chảy róc rách, những ngôi nhà nhỏ xen kẽ trong một vùng đồi núi thấp chung quanh. Các thửa ruộng nhỏ xếp thành h́nh những bậc thang để nhận nước từ những suối nguồn.

Mỗi sáng Chủ Nhật tiếng chuông nhà thờ La Vang đánh thức người dân, và rồi từng đoàn người với các chiếc áo dài khăn đóng, những chiếc khăn mỏ quạ, cùng với các em nhỏ trai gái trong đồng phục đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể lũ lượt từ Như Lệ cũng như những ngôi làng khác quanh đây, vượt qua các ngọn đồi để kéo về thánh đường La Vang đă một thời hưng thịnh.

H́nh ảnh đó không c̣n nữa. Giờ đây là các hầm hố, địa đạo, giao thông hào, chẳng c̣n một ngôi nhà nào c̣n sót lại trong làng Như Lệ.
Ôi! Sao tang thương dâu bể, vật đổi sao dời. Tôi quay lưng bước đi, ḷng tự hỏi:

“Trong những năm tháng tới đây, quê hương tôi sẽ được nh́n thấy La Vang và các khu làng quanh đây hồi sinh, hay sẽ c̣n phải tiếp nhận thêm các tai ương trong một cuộc chiến đă hơn 20 năm giữa hai miền Nam Bắc, Quốc Cộng, giữa hai chính thể !?”
Chúng tôi cứ phải nghe, đôi khi phải tuyên truyền thêm về những sự tích anh hùng trong chiến tranh, cứ phải nh́n những cảnh máu đổ, thịt rơi. Trên báo chí cả hai miền Nam Bắc th́ đua nhau ca ngợi các chiến thắng lẫy lừng!

"Vậy chứ ai là người thua cuộc khi cả hai bên đều thắng? Chắc là người dân nghèo nơi quê hương tôi, một cổ hai tṛng..."

Tôi thở dài, lắc đầu, tiếp tục leo nốt ngọn đồi trước mặt. Xa xa về hướng Đông-Bắc là đồi dương, nơi bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân, mường tượng tới những h́nh ảnh nơi tôi sẽ đến làm công tác dân sự vụ, một nỗi vui buồn lẫn lộn trong ḷng.
Biết nói ǵ đây với những người dân, những người lính địa phương?
Tôi bật cười, đá văng một ḥn sỏi nhỏ dưới chân, miệng nói khẽ:

"Có ǵ mà phải lo, mọi sự rồi sẽ ổn thỏa".

Xem tiếp phần 5

 


VĂN CHƯƠNG

Người lính VNCH

Người lính VNCH trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những gịng sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư t́nh của người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
T́nh Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh "homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nh́n được xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư t́nh
May mà có em
Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ
May mà có em đời c̣n dễ thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba ḍng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Những xác chết trên mănh đất chữ "S"
Thân phận người lính găy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia Trung ...
Những mảnh đời dang dở - phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, phần 6, phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời chinh chiến
Vược ngục
Chuyện t́nh khoai lang
Tâm t́nh người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực 19-6-73
Vinh danh người lính VNCH

Linh tinh

Khi con đường không lối thoát
Những bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái t́nh
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ c̣n một ngày để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một ḿnh
Hăy bế em ra khỏi cuộc đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Ḥa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc t́nh
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nh́n những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
V́ hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Ngh́n trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời c̣n vui v́ có chút ṭm tem
Đôi mắt Phượng
Ngựi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
T́nh già
Buổi chiều ở Thị trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân t́nh
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông bạn già năm xưa - English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài ṿng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
T́nh người
Hồi kư của một người Hà Nội
T́nh nghĩa, nghĩa t́nh
Đôi đũa
Gịng đời... và hồi âm gịng đời...
Không cho phép ḿnh quên
Thảm sát trên đảo Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
T́nh ngây dại
Để nhớ để quên