TỰ DO ƠI TỰ DO!

BK Bùi Đức Tính



Để tưởng nhớ đến hơn 850,000 thuyền nhân Việt Nam đă tử nạn khi vuợt biển để t́m Tự Do.

Dedicated to over 850,000 Vietnamese boat people who lost their lives in the Journey to Freedom

“To understand the present and anticipate the future, one must know enough of the past, enough to have a sense of the history of a people.”

LEE KUAN YEU
20/01/1980

ĐỂ GHI NHỚ
(Thay đôi lời mở đầu)

Tháng Tư, năm 1975.

Đêm hai mươi chín, đen như ngày sẽ mất !
Nghe loa vang tiếng giặc gọi chiêu hàng.
Gh́ tay súng, lửa thù tim sôi hận.
Mắt hờn căm, cùng loạt đạn đáp lời.
Những người lính chợt vùng lên bất chấp.
Trong ṿng vây, sinh tử đă có phần.
Ngày ba mươi, nghiêm chào nhau lần cuối.
T́nh chiến hữu!... lặng người, xót xa đau.
Colt 45 từng mảnh, nát tan hồn,
Trôi ch́m theo gịng nước đục quê hương,
Vào ḷng sông, không vương vào tay giặc.
Đây mảnh đồng, một thời trên áo trận
Danh dự đây! bạc phận, đất chôn vùi.
Lịm theo hồn, thân này như đă chết.
Cố che dấu nhục hèn, từng… "BẤT KHUẤT"
Bước thẫn thờ với súng giặc kề lưng.
Làm quan chi?... sao sống để làm tù ?!
Trách ḿnh hèn, chưa chết như chiến hữu.
Nợ nước nhà, ơn sinh thành dưỡng dục,
Sống trong đêm, nuốt nhục ước thấy ngày.
Ngày sống thừa, truyền đời sau ghi khắc:
Mẹ Việt Nam, lũ quỉ đỏ đoạ đày.
C̣n hơi thở, c̣n hận loài cộng phỉ.
Cùng chung nhau ǵn giữ Quốc Quân Kỳ.
Ngày Quốc Hận, ngày ba mươi tháng Tư.
Ngày ba mươi, ngày đen như vận Nước!


Thế đấy, sắp đến Ngày 30 Tháng Tư!
Thế đấy, đă hơn ba mươi năm nuốt nhục sống làm người lưu vong!
Đêm qua đêm, ước mong đêm đen trên quê hương sẽ qua đi, cho đồng bào tôi được thấy ánh ban mai. Ngày lại trở về trên Đất Nước Việt Nam, khắp nơi nơi rạng ánh cờ vàng Tự Do.
Dĩ văng, tự nó phai mờ theo thời gian. Hơn ba mươi năm nay, bè lũ đảng cộng sản cứ lải nhải kêu gào người tỵ nạn cộng sản hảy quên đi quá khứ. Quá khứ tội ác của đảng cộng sản tự nó đă ghi vào lịch sử bằng máu và nước mắt. Hơn nửa, tội ác của đảng cộng sản không là quá khứ! Nó không phải chỉ có trong quá khứ; mà vẫn tiếp diễn đến thời điểm hiện tại.
Con rắn độc dù có lột da bao nhiêu lần đi nửa, nó vẫn là con rắn độc!
Cộng sản vẫn là loài cộng sản!
Tội ác của đảng cộng sản, không thể nào được quên hay tha thứ!
Tội bán nước hại dân của đảng cộng sản, Lịch sử Việt Nam đă khắc ghi trong những trang sử đen tối nhất của Việt Nam.
Tôi vẫn tin rằng, chúng ta có thông hiểu lịch sử, mới có thể hướng định tương lai. Nhà Triết Học George Santayana đă nhắc nhở: "those who cannot remember the past are condemned to repeat it".
Mỗi người Việt phải sống với quyền làm người đă bị đảng cộng sản cướp đoạt, là một nhân chứng của lịch sử với hàng triệu tang thương. Những trang sử Việt ghi khắc chứng tích bán nước và tội ác của loài cộng phỉ.
Gịng nhạc "Xin Đời Một Nụ Cười" vương vấn măi trong tâm tư người tỵ nạn cộng sản, xót xa, lắm thương đau:

"Tự do ôi tự do! tôi trả bằng nước mắt
Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
Tự do ơi tự do! em đổi bằng thân xác
V́ hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong"

Tôi xin được mượn gịng chữ "V́ Hai Chữ Tự Do" từ lời nhạc của nhạc sĩ Nam Lộc làm tựa chung và tên cho bài chính trong tập tuyện.
Không chuyên viết văn thơ, tôi chỉ có ư lưu lại tâm t́nh cho thế hệ kế tiếp được biết chút chuyện về những tháng ngày Dân Tộc ḿnh lầm than đen tối trong gông cùm của bạo quyền cộng sản; khi Tổ Quốc bị đảng cộng sản Việt Nam can tâm hiến dâng cho cộng sản Nga và quân xăm lược Trung cộng; khi nước mắt hay cái chết là sự chấp nhận để hầu có cơ hội vượt thoát chế độ phi nhân của đảng cộng sản. Tập truyện ghi lại những tháng ngày rời rạc qua Chuyến Đi Cuối Năm, Tự Do ơi Tự Do!, Một Lần Đi, Ngh́n Trùng Cách Biệt, Vượt Thoát, V́ Hai Chữ Tự Do, Một Lần Vĩnh Biệt, Để Nhớ Để Quên.

Khởi đầu với Chuyến Đi Cuối Năm từ dạo cuối năm 2008. Mỗi tuần một vài lần, một vài trang, tôi "gỏ" cho ấm Diễn Đàn khi trống vắng. Đến cuối tháng Sáu năm 2009, tôi mới "bơi" đến bài V́ Hai Chữ Tự Do và tháng Tư 2010 th́ viết thêm được đoạn ngắn, Một Lần Vĩnh Biệt!
Vâng,
"Một lần đi là một lần vĩnh biệt"
Nhạc phẩm Một Lần Đi của Nguyệt Ánh đă lưu lại lắm cảm xúc cho thân phận làm người dân trong chế độ cộng sản. Tôi cũng xin được mượn thêm lời nhạc của chị làm tựa đề cho bài Một Lần Đi, Ngh́n Trùng Cách Biệt.
Không có BatKhuat.net và Diễn Đàn, chắc tôi chỉ viết được một bài tóm tắt ngắn duy nhất, Để Nhớ Để Quên. Chân thành cám ơn quư Niên Trưởng và Huynh Trưởng trong Diễn Đàn BẤT KHUẤT đă ủng hộ tinh thần, giúp tôi có năng lực để viết và viết tiếp tục.
Hàng triệu người bất hạnh, như cha, mẹ, anh và em gái của nhà tôi, đă không có được may mắn sống sót để viết, kể lại cái giá Tự Do vô cùng khắc nghiệt mà đồng bào ḿnh đă phải trả, khi vượt trốn loài cộng sản bất nhân.

Ba mươi lăm năm trôi qua. Tháng Tư lại trở về, lại thêm một lần Cộng Đồng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản cùng mặc niệm Ngày Quốc Hận. Bên nhau, những người lưu vong hướng về quê hương Việt Nam, cùng lắng nghe xót đau mất mát. Ngước nh́n Quốc Kỳ vẫn oai hùng đứng thẳng, Quân Kỳ vẫn uy dũng tung bay trên cánh tay, tôi nghe niềm tin vẫn ấm trong tim.
Vâng, tôi vẫn c̣n niềm tin!

Tôi vẫn tin!
Tôi tin chắc rằng:
Có một ngày,
Đêm đen sẽ bừng sáng.
Người gọi người:
Hảy tỉnh cơn mê!
Hảy phá gông cùm!
Hảy xé cờ đỏ!
Bỏ đảng cộng sản!
Giải cứu dân oan!
Hết cộng phỉ, đêm tàn ngày rạng!
Ánh cờ vàng rực sáng nước Việt Nam.

V́ Hai Chữ Tự Do là ḷng thành tưởng niệm kính dâng lên hương linh của triệu người đă chết khi vượt rừng vượt biển để t́m Tự Do; đồng tưởng nhớ đến Ba, Mẹ, anh Hai, em Sáu của nhà tôi đă mất tích trong Chuyến Đi Cuối Năm, năm 1979.

BK Tính323


When you leave shore to Freedom, you hope for survival. But you assume that you will die.

Khi vượt biển t́m Tự Do, người ta cầu mong được sống sót. Nhưng xem như ḿnh sẽ chết.

1.



Đứng ngoài mũi tàu, cuốn dây neo lại cho gọn để cất vào hầm chứa neo, chuẩn bị cho tàu rời bến, chợt nghe có tiếng va chạm bên hông tàu, tôi ngừng tay và bước sang ngó, thấy Hải vừa cặp xuồng vào tàu. Hải ngước nh́n tôi cười thật tươi:
- Chạy chưa anh Vinh !

Vinh là tên của em tôi.
Là một tù nhân chính trị, tôi dùng lư lịch của em tôi ẩn trốn trên tàu này. Ghe tàu san sát nhau lúc đậu bến, không biết ai đang là tai mắt cho bọn công an cộng sản, hay lũ "ḅ vàng" theo cách gọi của dân chúng. Từ dạo ấy, tôi đóng vai thằng Vinh phụ việc trên tàu chở hàng với Vũ. Chúng tôi hầu như chân không, áo quần bê bết dầu máy, làm như ngố ngáo dốt chữ nghĩa. Thèm nhớ sách báo lắm, nhưng không dám chứa trên tàu hay tẩn mẩn đọc.
Nhờ bè bạn che dấu tôi trên tàu, và nhờ chiếc tàu tôi có nơi lẩn tránh bọn công an cộng sản. Đây là mái ấm gia đ́nh trong lúc phải lưu lạc trên sông nước. Một mái ấm gia đ́nh trên thân tàu có chừng tám mét chiều dài và ba mét bề ngang.
Từ cái hầm nhỏ, dùng chứa neo và dây, ở sát ngoài mũi đến hầm máy, khoang tàu để mở trống. Với khoang tàu không che kín bên trên như thế, sức chứa của khoang tàu được tận dụng và tiện lợi cho việc lên xuống hàng hoá, nhưng tàu dễ bị ch́m khi sóng to tràn ụp vào. Bên trên thành khoang chứa hàng, có đóng miếng gổ bề ngang chừng gang tay. Hai miếng be gổ nhỏ hẹp này chạy dọc từ mũi đến mui, vừa giúp kềm vỏ tàu thêm cứng chắc, vừa làm lối đi từ mui đến mũi. Lối đi bên trên thành tàu này rất cần thiết lúc khoang tàu chở đấy hàng hoá, nhưng có phần nguy hiểm khi tàu đang chạy trên sóng lắc lư và mặt gổ bị ướt trơn trợt. Người đi phải quen bước, để khỏi bị trợt chân rơi xuống nước và bị nước cuốn hút vào dưới lườn tàu, nơi cánh quạt của tàu đang quay để đẩy tàu chạy tới.
Tiếp sau phần khoang chứa hàng, đến phía sau đuôi, th́ khoang tàu được lót ván che kín bên trên; nhưng các miếng ván này có thể lấy ra cho trống để xuống kiểm soát hay sửa chửa động cơ. Bên dưới sàn gổ là hầm máy, nơi đặt động cơ của tàu. Căn pḥng bên trên sàn gổ thường gọi chung chung là mui tàu. Mui tàu giống như cái hộp bằng gổ, nhưng là căn nhà yêu quư trên mặt nước của chúng tôi. Trong mui tàu, một góc nhỏ cận phía sau đuôi, được ngăn ra để ngồi nấu ăn, khu vực c̣n lại làm chỗ ăn và cũng là chỗ ngủ của chúng tôi. Hai bên vách của mui tàu có khung cửa sổ. Phía sau và trước có cửa để chui ra phía sau lái hay tuột xuống khoang chứa hàng hoá đàng trước.. Nóc mui không cao lắm, chỉ đũ cao để ngồi hay đi lom khom mà thôi. Thực ra, trong cái hầm có diện tích dưới ba mét vuông như thế này, th́ không mấy khi cần phải "đi", chỉ cần lết người hay vói tay qua lại là có thể lấy được vật dụng khi cần. Nóc mui có một khung vuông trống, có nấp đậy lại để che mưa gió khi cần. Khi mở nấp mui, đứng trên hầm máy thân người từ ngực trở lên sẽ được ló cao bên trên nóc mui, dễ dàng xoay trở và nh́n các phương hướng quanh tàu.
Thuộc loại chuyên chở trong sông, nên mũi và thân tṛn bầu để chứa được nhiều hàng hoá, cho nên tàu khó mà cắt sóng để chạy lẹ hay an toàn ngoài biển khơi. Với cấu trúc của thân tàu như thế, chiếc tàu của chúng tôi chỉ thích hợp để vận chuyễn hàng hoá trong sông hay ven biển khi êm sóng mà thôi.
Điều khiển tàu tuy c̣n luộm thuộm, bất tiện nhưng giúp che dầu âm mưu vượt biên, bớt bị đám công an tai mắt theo dỏi. Cho nên, tàu cần có người đứng gần máy để đổi số, giống như lái . . . máy cày trên ruộng đồng vậy! Vũ giơi về máy, đứng bên dưới lo phần chạy máy, sang số. Người giữ tay lái trên mui, th́ chỉ có cái cần gia giảm tốc độ mà thôi, không thể đổi số cho tàu chạy lui hay chạy tới với số chậm lẹ cho thích ứng.

Không chờ tôi trả lời, Hải liếng thoắng tiếp:
- Dạ, có hai d́ này xin có giang mấy anh…
D́ Năm hướng về người đàn bà ngồi vịn chặt hai tay vào thành xuồng, dáng như chưa quen sóng nước lắm:
- Tui với chị Bảy đây xin có giang ra ngoài xóm trạm nghen mấy chú.
Đang kiểm lại động cơ trong mui, nghe lời qua tiếng lại, Vũ đứng trên hầm máy nhóng người qua khung cửa trổ lên mui, ngó thấy d́ Năm quen, nên dễ dải:
- Lên, lên đi hai d́, tụi tui phải chạy đi lấy nước đá ngay bây giờ ...
- Ê Hải, mấy đứa bây sáng nay nay lặn đâu mất hết vậy, có muốn vác nước đá hông vậy?
- Tụi nó chèo lợi đẳng trước hết rồi anh Vũ ơi, c̣n tui th́ mắc chở hai d́ này lại đây đây nè.

Hải đă quen nghề rồi, miệng nói tay lần chiếc xuồng ra phía sau đuôi tàu cho thấp, và giúp khách lên tàu. Dân đi buôn thường hay quá giang ghe tàu xuống xóm trạm, cái xóm có chợ quán nho nhỏ ở quanh đồn công an biên pḥng, để mua lỉnh kỉnh các thứ tôm khô, cá khô về bán lại kiếm lời. D́ Năm đi buôn thuờng lắm, hầu như ghe tàu nào cũng biết bà d́ này, nhưng người bạn của d́ th́ chúng tôi chưa từng gặp. Nh́n Vũ và d́ Năm cùng giúp cho người đàn bà này lên tàu th́ khó mà tin d́ Bảy là bạn đi buôn, dân theo ghe tàu chuyên nghiệp. Bộ dạng thanh nhả và nhút nhát sóng nước như thế này, chắc là dân chỉ quen sống ở thành thị.

Khách rời xuồng xong, không cần hỏi han hay ai kêu bảo, Hải đă xếp xuôi đôi chèo lên xuồng, leo gọn lên tàu và ṿng dây cột vào móc sau đuôi tàu để gịng chiếc xuồng của nó theo, cho khỏi mất công chèo đến hăng nước đá.
Thấy mọi người đă yên chỗ, tôi cuốn nhanh tay cho xong dây neo, rồi tháo lỏng sợi giây mũi, ngó Vũ đang đứng trên hầm máy chờ :
- Cho máy chạy được rồi, anh Tư!
Trong gia đ́nh th́ Vũ thứ Tư, và là một trong tám thằng ăn cơm chung với nhau khi c̣n trọ học ở Nội Trú. Năm 72, tôi và Phát (U.N.P.), cùng vào Trường Bộ Binh Thủ Đức và chung Đại Đội 32. ăn cơm chung ở …Nhà Bàn. Vũ theo nghành chuyên môn, về sửa động cơ trực thăng, bên Không Quân. Sau khi tôi rời nhà tù của bọn cộng sản về, gặp lại nhau th́ Phát và Vũ tuần tự có vợ có con; tôi tôn lên làm đàn anh hết. Cả hai đều thứ Tư , tôi gọi đùa là anh Tư.

Cái máy dầu cặn gầm lên khởi động, rồi bắt trớn ngoan ngoản chạy ngay. Tiếng máy nổ ấm, nhịp nhàng thật dễ thương.
Động cơ tàu được lấy ra từ chiếc máy cày hiệu John Deer cũ, ráp vào tàu được gần hai năm nay rồi. Tám máy đẩy chiếc tàu trọng tải mười lăm tấn cũng không quá tệ. Hồi tháng trước đây th́ cái head gasket bị cháy, tàu neo cả tuần để chờ xoay kiếm đồ phụ tùng. Theo bạn ghe đồn chỉ, Vũ ṃ sang Vĩnh Long t́m được người biết làm gasket. Dựa theo tấm giấy mà chúng tôi đồ theo h́nh dạng có đũ vị trí lổ ốc rảnh trong máy, kèm với miếng gasket cũ làm mẫu, người thợ già chế biến cái mới cho chúng tôi. Khó tính đến đâu, thấy miếng gasket sáng bóng, gồm nhiều lớp nhôm mỏng đă cắt ép tỉ mỉ cũng phải thán phục tài khéo tay của ông. Trong t́nh trạng khan hiếm phụ tùng lúc này, quả thật ông chính là vị cứu tinh, là đại ân nhân; c̣n việc bền được bao lâu th́ đành chịu phó thác cho thời vận. Vũ đặt làm luôn ba cái để pḥng hờ trên tàu và chúng tôi chỉ c̣n biết cầu nguyện sao ngày ra đi, cái máy nó vẫn thương giúp chúng tôi, chạy thật ngoan.

Năm trước, chúng tôi chạy tàu xuống đây để trốn đi, nhưng toán đưa đón người bị thất lạc nhau, phải huỷ bỏ kế hoạch vượt biên. Đem tàu quay trở về bến nhà th́ chắc chắn là bị bắt ngay, chỉ c̣n cách là ẩn náu quanh quẩn. Một mặt, chúng tôi di chuyển tàu từ bờ này sang bến khác, một mặt ráo riết làm quen ghe tàu xung quanh t́m mối chở hàng hầu tránh tai mắt của tụi công an địa phương và kiếm cơm cháo sinh sống qua ngày.
Chở hàng nào cũng có cái sướng và cái khó riêng của nó!
Chở cá khô cho hợp tác xă th́ nhẹ nhàng, khuân vác khoẻ re! Đến chừng giao xong hàng, dọn rửa ghe th́ mới trắng mắt ra! Y hệt như là cái loài cộng phỉ; cái đám gịi chúng nó ăn bám, đụt khoét, rút trốn trong khô, rồi thừa cơ hội yên tĩnh, theo nhau chui ra, ḅ trắng trong khoang tàu, len lỏi cùng khắp kẻ kẹt dưới khoan tàu.
Dọn rửa tàu, thở hụt hơi, ngán ngẩm cái giống gịi bọ bẩn thỉu!
C̣n cái mùi hôi khăm khẳm của khô th́ thấm sâu trong gổ, nó ướp khắm trong da thịt!
Từ đó, chán ngán khô đến nổi, cứ thấy mặt cái lũ cộng nô và cái đám đón gió trở cờ là lại thấy đám gịi ḅ lúc nhúc. Thà uống rượu khan vẫn ngon hơn là cắn răng vào miếng khô "hợp tác xả".
Chở cây rừng, bốc vác nặng và trầy dập người chỉ là việc nhỏ, c̣n thua xa cái thời bị tù đày, mỗi chiều tối phải vác cây rừng về trại. Cái khó là chở ít th́ trông không giống ai, không giống ghe tàu trong đoàn, bị nghi là tàu đi dọ đường để vượt biên. Vũ ngại rằng, để bị xét hỏi th́ e chúng nó biết bắt tôi, nên đành phải chở cho giống như dân làm ăn. Chở nhiều, tàu khẩm nặng lấp xấp ngọn sóng, mà chúng tôi th́ hảy c̣n non kinh nghiệm lèo lái lắm. Canh sóng gió, canh con nước trở, canh neo, sơ sẩy dễ bị ch́m tàu lắm. Lo sợ mất ăn mất ngủ. Lên xong chuyến cây, anh em van vái tạ ơn thuỷ thần, đất trời và không ham đi làm chuyến thứ hai.
May sao, sau đó th́ chúng tôi chạy chọt lo lót, kiếm được cái mối chở hải sản.
Bây giờ, chiếc tàu cần làm thêm cái mui lá để che tôm cá và nước đá trên phần trống của khoan tàu. Cũng là cái may, cái hay đưa đến, chúng tôi có lư do để che kín tàu, tiện lợi cho việc che giấu người khi ra xuất phát sau này.

Tàu có ba người. Anh Ba, anh rể của Vũ, về quê nhà thăm gia đ́nh, nên mấy hôm nay tàu chỉ c̣n hai đứa chúng tôi. Vũ đứng máy và sang số, c̣n tôi lái và chịu mủi.
Chờ cho máy chạy đều tốt một lát, Vũ đứng ló người lên trên mui, vịn cần sang số và gọi vọng ra ngoài mũi tàu:
- Dọt được rồi!
Nghe tiếng Vũ, tôi tháo hẳn dây mũi, lấy sào chống xoay mũi tàu hướng ra ngoài sông rồi chạy lẹ trên miếng be của thành tàu xuống phần đuôi, leo lên mui giữ cần lái.

Chuyến đi, tàu đến hảng nước đá, lấy nước đá chở đem ra trạm thu mua ở ngoài biển. Chuyến về, chở hải sản đă được ướp nước đá xay trong thùng, chạy về giao cho công ty ở tỉnh. Mất từ bốn đến sáu giờ chạy từ sông ra biển, đến trạm thu mua. Tôm cá từ trạm thu mua về tới công ty hải sản, th́ phải qua kiểm hàng và đi chuyển hàng lên bến. Hàng lên xong, dù hai hay ba giờ sáng cũng phăi lo rửa tàu cho sạch, không th́ nước tôm cá chảy ra đă nằm ứ trong khoang cả ngày rồi, sẽ śnh thối lên. Không làm biếng được! Mỗi chuyến, ba anh em chúng tôi xuống khoảng 150 cây nước đá. Cây nước đá nhẹ hơn bao xi-măng, nhưng khó vác hơn khi đi trên cái miếng ván gác từ trên bờ đến mủi tàu. Miếng ván bị nhồi lên sụp xuống bất chừng theo nhịp đi của nhiều người, và sóng th́ cứ lắc lư con tàu. Cây nước đá vừa trơn lạnh, vừa cứng, sút tay, rớt cấn lên bàn chân trần không giày dép th́ cũng đáng lo lắm. Thấy vậy, vác nước đá riết rồi quen, hết ngán. Mấy đứa trong nhóm Hải vác nước đá nghề lắm. Biết đám chèo xuồng túng quẩn, chúng tôi thường lấy cớ mướn vác tiếp nước đá, để mấy đứa nó kiếm ăn thêm. Nước đá khi giao cho trạm th́ nhân viên đếm đầu cây. Cây đá dài ngắn họ biết, nhưng đă có ăn nhậu với nhau, họ làm lơ cho qua, miển đừng làm quá đáng. Nhờ có lư do phụ vác nước đá, nhóm trẻ chèo xuồng trà trộn trong tàu sẽ lén chặt nước đá và ḷn dấu lên xuồng để đem đi bán. Tuỳ may mắn, tuỳ nhân viên hảng kiểm tra ở bến nhiều ít, mà ḷn dấu được ít hay nhiều.

Hải ngồi tḥng chân đong đưa, đùa với những cuộn sóng ṿng lên sau đuôi tàu, trông chừng chiếc xuồng con của nó, than vản:
- Anh Vũ biết hông, chuyến rồi, tụi tui chia nhau hổng tới đâu hết, kỳ này...
- Ba đứa tụi bây, chặt hết bốn năm khúc nước đá mà mày nói hổng tới đâu. Nửa khúc thôi nghen mậy, ba anh em tụi tao có hủ tíu, có cà phê sửa đá và c̣n chơi cả thuốc ba số năm, tụi mày sạo tổ mẹ. Tới ... thấy bà, chớ mà hổng tới, mậy!
Bị Vũ ngắt lời, Hải cười hề hề, rồi lại kèo nài thêm:
- Hôm nào có lên tôm, anh cho tui vô hốt một mớ cho bà nội tui "bồi dưởng" nghen anh Vũ.
- Ừ,... mày lên kêu Ba Thơ xuống đây hốt tao với thằng Vinh luôn cho gọn. Giởn mặt hoài mậy. Bộ mày hỏng thấy mấy đứa áp tải, nó đứng tḥ lỏ cặp mắt nh́n chừng mấy cái thùng hàng à!

Ba Thơ coi bộ phận vận chuyến hải sản. Hắn kư giấy phép cho ra biển, kư sổ hàng của tàu vận chuyển, dĩ nhiên là phải theo nguyên tắc phổ thông ‘’đầu tiên’’, tức là tiền đâu. Cơ quan nào cũng thế, quan nào cũng vậy, biết điều có phong b́, quà biếu th́ có chuyến; không th́ neo tàu, húp cháo, nằm ngó sóng nước . . . ca vọng cổ.
Công việc th́ chỉ có vậy, nhưng Ba Thơ thích đeo lủng lẳng cái cây súng ngắn K54, đủng đỉnh xuống bến tàu, lùng kiếm bắt tàu hải sản vi phạm luật để kiếm ăn thêm, hoặc ḥ hét đuổi đám xuồng đưa khách của Hải cho oai, cho ra vẻ có uy quyền từ cái văn pḥng trên công ty xuống tới dưới bến cảng. Hắn rất hăng hái lao vào những công việc không phải của hắn như đi theo tàu công an t́m bắt tàu vượt biên. Cơ hội để vừa lập công, thêm thành tích, vừa được chia chát thêm tiền vàng ăn cướp từ những nạn nhân vượt biên bị chúng nó bắt.
- Ê Hải, bây giờ tao không có tôm tươi, tao có nồi mực kho nè, chịu th́ vô đây làm miếng cơm với tao cho vui.
Nghe Vũ mời, Hải lẹ làng lau khô chân, chui tọt vào trong mui, quên mất phải trông chừng chiếc xuồng của nó, miệng ngọt xớt :
- Để đó em, em dọn cơm cho anh Vũ!

Hải sống với bà nội ở bên kia sông, chúng tôi chưa nghe mà cũng không ai hỏi thêm về cha mẹ của Hải. Cũng như bè bạn, trạng lứa mười bốn, mười lăm tuổi mà Hải đă quen dầm mưa nắng chèo xuồng đưa khách sang sông, kiếm tiến phụ nuôi gia đ́nh; lúc ế khách, hay la cà xin khuân vác phụ việc. Măy đưá nó khôn lanh lẹ làng, chịu khó, nhưng lắm lúc vẫn c̣n vương vất nét thẻ thơ rất dễ thương. Tôi giăm tốc độ cho bớt sóng và ngó cầm chừng chiếc xuồng đang gịng theo phía sau, cho Hải.

Đă gần chín giờ sáng rồi mà trông u ám, chưa thấy mặt trời, chốc lát chắc phải có mưa. Sáng sớm, tiết trời cuối năm se sẽ lạnh, lại mưa, lại phải vác nước đá! Ngó chân trời, mong cho mây chậm kéo tới, chờ xuống xong nước đá hảy mưa, tôi cúi xuống nói vọng vào hầm máy:
- Hải vừa ăn vừa coi chừng xuồng nghe, tao dọt cho lẹ một chút. Ḿnh ráng xuống một mớ nước đá trước khi mưa.

May là sáng nay, hăng chỉ có một trăm cây nước đá, nên khi xuống xong th́ mưa mới bắt đầu lâm râm. Vũ và tôi đứng nghỉ tay, hít vài hơi thuốc cho ấm, rồi phụ nhau che khối cây nước đá trên tàu.
- Ra biển mà mưa, tao chán quá.
Vũ lầu bầu, để tấm ny-lông lên đống nước đá:
- C̣n một tấm, mày đậy luôn giùm tao cho rồi. . . Giờ này không thấy mấy đứa trên công ty, chắc là không có đứa nào quá giang rồi. Kệ, tao phóng lẹ lên quán lấy một lít rượu pḥng hờ.
- Xách vài ba lít đi. Lát nửa, tới trạm biên pḥng, tụi công an hay xuống quá giang, ḿnh có mà đổ cho nó ngủ. Tụi nó ngó ngang liếc dọc, lải nhải ba cái đồ “hồ hởi” “phấn khởi”, tao xốn lổ tai lắm.
- Ráng nhịn, mày!
Vũ vỗ vai tôi:
- Tụi ḿnh c̣n bà con trông cậy. đừng để hư bột hư đường, mậy ... Tao đi mua rượu rồi ḿnh giông.

Vũ thay cho người bác, trông coi tàu để chờ cơ hội mang gia đ́nh đi. Thân với nhau từ lớp tám. Nhờ Vũ thương bè bạn và dám che chở cho thằng bạn tù trốn quản chế, tôi mới có được chỗ ẩn náu trên tàu chờ ngày trốn đi. Xuống đây, nhằm tháng ba, " bà già đi biển", thế mà chiếc tàu chưa chạy được đến đâu. Bây giờ, Tết lại sắp đến, đă biết bao lần ra vào cửa biển như hôm nay, mà chúng tôi vẫn chưa biết bao giờ sẽ lần xuất phát. Mong chờ và lo lắng cho ngày vượt trốn vô cùng, nhưng phần lớn tuỳ thuộc vào gia đ́nh của ông bác. Sống gần cửa biển, tất nhiên nghe thấy thảm cảnh của đồng bào vượt biên bị chúng bắt được. Biết mà mà không giúp được cho đồng bào bị bọn công an cộng sản thảm hại, cái uất ức cứ vương vấn hành hạ lương tâm tôi. Đêm nghe tiếng súng ngoài biển, thảng thốt ngồi bật dậy nh́n đêm đen, nghe như có tiếng trách hờn, xót đau cào xé trong ḷng.

Trời cuối năm thường không mưa nặng hạt và dai dẳng lắm, nhưng hướng ra biển, chỉ thấy trời âm u thôi, th́ đúng như thằng bạn Vũ của tôi nói, cũng chán thiệt!
Nước đổ ra biển, đang ṛng thấp xuống, cọc đáy bị gảy đứng ngầm bên dưới mặt nước, đón lườn tàu, bây giờ chúng đâm đầu lên nhấp nhô trên mặt sóng. Tôi giữ tay lái xem chừng để tránh và ôn nhớ vị trí các cọc đáy. Đây là một trong ba tuyến đường, tôi cần ghi nhớ để một đêm xuất phát nào đó, chúng tôi sẽ phải lái ra cửa biển mà không được dùng đèn rọi để t́m tránh cọc đáy, nhất là các cọc đáy ngầm này.

Phía trước có chiếc xuồng đang hướng ra chợ. Cô gái nghe tiếng máy tàu phía sau, từ xa đă ngưng tay chèo, nép xuồng sát vào bờ. Thấy vậy, tôi cũng hạ thấp tốc độ máy cho bớt dậy sóng, khi tàu chạy ngang qua.
Cánh áo đă bạc màu, sắc tím lan đây đó phơn phớt, mộc mạc như đoá hoa lục b́nh ven sông. Cho tàu chạy thật chậm, nhẹ lướt qua chiếc xuồng. Ngó sang, thấy xuồng chở đày ấp dưa hấu, tôi lên tiếng chào hỏi:
- Cô ơi, dưa đă có mối chưa cô?
Trong màn mưa lất phất, có đôi mắt ngước nh́n lên e dè:
- Dạ . . . có rồi . . . biếu . . . chú một trái ăn Tết cũng được.
- Chúng tôi xin mua một cặp được không cô?
Cô gái kéo nón che đôi mắt, ấp úng:
- Dạ . . . Má . . . rầy!
Tôi nói vói theo xuồng dưa đang xa dần ra phía sau:
- Không sao, cám ơn cô ! . . . Cô cho tôi gởi lời thăm Má, sang Năm Mới mua may bán đắt nhé!
Bên dưới vánh nón lá, nụ cười bẽn lẽn c̣n mọng ướt hạt nước mưa.

- Ê, Làm một điếu cho ấm đi!
Vũ chồm người lên mui đưa cho tôi điếu thuốc đă mồi sẵn.
Điếu thuốc rê, hơi khói nặng đặc quánh. Nhưng thà vấn thuốc rê mà hút, tôi ghét căm cái nhăn hiệu thuốc hút có cái tên rất là dị hợm: Sài G̣n giăi phóng. Không cần biết thuốc hút ngon hay dở ra sao, tôi chỉ ghét cái chữ “giải phóng” của chúng nó, đâm ra ghét lây gói thuốc thế thôi. Thà nhịn thèm, c̣n hơn phải hút cái thứ có chữ “giải phóng” khốn nạn đó. Hồi đó, mới lảnh lương, dừng quân có chợ quán là tôi kiếm mua một gói Pall Mall. Điếu thuốc có dáng thon dài, thơm nồng nàn, thật tuyệt. Bây giờ, tôi ước ǵ có được điếu Basto Quân Tiếp Vụ.
Tôi xoay điếu thuốc vấn vào trong, che mưa, để đóm lửa con con sưởi ấm ḷng bàn tay:
- Cám ơn mày . . . Sắp tết rồi!

Bao nhiêu cái Tết, gia đ́nh đă không thấy tôi về. Tết trong rừng bụi, Tết trong tù và thêm một năm nửa, một cái Tết lưu lạc, lẫn trốn trên chiếc tàu này. Rồi đây, nếu tôi trốn thoát, th́ bao nhiêu cái Tết mới hết loài cộng phỉ, để tôi trở về quê hương vui Tết?
- Ừ, mau quá !
Tôi hướng về hai người khách quá giang đang ngồi trước mũi tàu:
- Tao không tin bà d́ Bảy là dân đi buôn, qua giang để đi mua hàng. H́nh như hai bà d́ này t́m kiếm chi đó bên kia sông.
- Ừ, tao cũng thấy vậy. Tao có mời vào trong này cho đở gió mưa, mà không ai chịu, cứ ngồi ngoài ấy. Mày xem, ḿnh để ư hỏi th́ mấy bà có bao giờ dám nói cho người lạ như tụi ḿnh nghe đâu, mà c̣n làm cho mấy bà e ngại ... Mà, cũng gần tới xóm trạm biên pḥng rồi, hai bà cũng lên trên bến đó. Thôi, tao xuống chuẩn bị giấy tờ đi tŕnh trạm công an để ra biển.
- Ừ, th́ chỉ qua vàm lục b́nh đàng trước!
Nhắc đến vàm lục b́nh, tôi chợt nhớ ra, ngó theo hướng nh́n của hai người khách, cho tàu chạy chậm lại và áp gần vào bờ hơn.
Phía vàm lục b́nh, đất bồi nên cạn lài ra gần giữa ḷng sông, tàu chở nặng, không thể chạy quá gần. Xa xa, dảy lục b́nh ven bờ lao xao nhấp nhô theo làn sóng gợn đưa vào. Trên thảm lá xanh mướt sau cơn mưa, sắc hoa tím nhạt điểm nhuỵ vàng trông càng tươi thắm. Những mầm sống này trôi dạt lững lờ từng mảng theo ḍng nước; như có hẹn nhau, chúng gom tụ vào đoạn sông này, rồi sinh nấn níu nhau, không chịu rời đi nơi khác.
Bạn đi ghe truyền tin nhau, không rơ từ hôm nào, bên dảy lục b́nh dày đặc này cùng những mảng vỏ tràm, bọt bèo, mấy ngày nay lại thấy nổi phập ph́u một phần lưng của xác người. Cái quầng nâu sậm gần cuối lưng, không rơ là vướng đất phù sa hay là vết máu. Mặt nạn nhân úp xuống nước, nên khó định được dạng tuổi. Sau những lần nghe tụi biên pḥng rượt bắn tàu vượt biên, th́ thỉnh thoảng lại thấy có xác nổi lên, trôi dạt và thường vướng vào đoạn sông này. Lũ man rợ cộng sản muốn thế, cứ để gịng nước đưa đẩy thi thể qua lại hay cuốn ra biển khơi mặc t́nh; để đe doạ những người mà chúng ve vản gọi là đồng bào, và chờ thân nhân đến nhận xác để ăn tiền, ăn trên xác chết của nạn nhân! Tội nghiệp cho gia đ́nh quyến thuộc, họ thăm hỏi, xin quá giang ghe tàu chạy ngang để t́m nh́n thi thể người thân.

Chiếc tàu chậm chậm qua khỏi vàm lục b́nh, tôi ngoái nh́n theo vệt sóng chạy nối nhau vào bờ ŕ rào t́m kiếm.
Không biết thi thể của người đàn ông vương ven bờ, bây giờ đang trôi ch́m nơi đâu. Một mùa xuân hy vọng, đă ch́m vào mênh mông. Rồi đây, mùa xuân có c̣n trở về trong những ánh mắt tiếc thương của người thân c̣n sót lại? Hay mỗi độ xuân về, ngày Rước Ông Bà chỉ c̣n là mâm cơm chiều nhớ ngày giỗ kỵ và ánh nến trắng tang thương lại đốt cháy thiệp xuân hồng?
Mắt nghe cay xót. Gịng nước đổ ra biển đang cuộn dậy, sôi sục sóng uất hờn.

Nén hương ḷng kính dâng lên anh linh đồng bào đă tử nạn trên đường t́m Tự Do.Đồng tưởng nhớ Ba, Mẹ, anh Hai, em Sáu của nhà tôi, cùng những thuyền nhân đă trốn đi vào ngày cuối năm trên chiếc tàu đă không đến bến bờ Tự Do.. Ngày giỗ năm Mậu Tư.

2.

Tháng Tư gợi nhắc lắm đau thương.
Có phải, mỗi một ngày lưu vong là một ngày đen, tháng ngày Quốc Hận!
Niềm ưu tư thôi thúc tôi, ngồi lại với bàn phím, với tâm t́nh, với những trang sử buồn của tháng Tư. với Diễn Đàn Bất Khuất.
Tự Do ơi Tự Do!
Chào kính,
BK Tính323


Mấy ngày nay biển động. Dân đánh lưới cá tôm không ra khơi được, tàu chúng tôi phải nằm chờ hải sản "thu mua" đũ số lượng của một chuyến. Sau này, dưới chế độ cộng sản cai trị, cũng như các ngành nghề lao động khác, người hành nghề đánh cá phải vào "hợp tác xă", bán hải sản cho bọn cầm quyền ở địa phương.
Bước sang tháng Tư, thời tiết trở nên bất thường. Các chuyến vượt biển bằng ghe tàu nhỏ coi mất dần cơ hội để ra khơi. Gió mạnh, có lúc chắc phải hơn bốn mươi cây số một giờ, làm biển động mạnh. Không thuyền ghe ra khơi, không tàu bè trở về. Mưa cứ nối nhau, cơn từng cơn, từng cơn rào rạt trút nước lên vạn vật. Băi biển cạn, đất bùn. Sóng cuộn nhào đục ngầu màu phù sa nâu đỏ. Trời âm u buồn. Trùng dương xám mù mịt, ḷng người chùng xuống ưu tư. Trong âm u mù mịt, biết đâu ngoài biển khơi, thuyền Tự Do của đồng bào tôi chao đảo trong cơn sóng gió. Không vướng bận thân quyến đồng hành, chiếc 3392 của chúng tôi đang ngoài khơi đó, từ đêm khuya hôm qua.
Ra đến trạm thu mua, tức là đă qua khỏi trạm công an biên pḥng hay căn cứ hải quân rồi. Nh́n đại dương rộng mở, nôn nao mong ước lắm. Người ta liều lĩnh, ra khơi bằng ghe tàu mỏng manh hay trong mùa biển động để bọn công an và tay mắt không để tâm theo dơi lùng kiếm. Thuyền nhân chọn hiểm nguy trong sóng to gió lớn để vượt thoát chế độ ngục tù của loài cộng sản, chấp nhận đánh đổi tính mạng chính ḿnh v́ hai chữ Tự Do.
Tàu đánh cá quanh đây hầu hết thấp hẹp, nên tốc độ tàu lướt sóng nhanh gọn, để thích ứng với nghề đánh lưới vây, lưới kéo, bắt tôm, cá thu, cá ngân,… Nhưng biển động ghe tàu nhỏ đành nằm bến chờ thời và tàu chở hàng chúng tôi cũng neo tàu, bị mất chuyến. Có chuyến chở hàng, có tiền cơm gạo, có cơ hội ḍ đường chọn cửa biển, được mua dầu để tích trử cho ngày ra khơi.

Thời tiết thế này chán lắm!
Bên ngoài mưa gió ướt át, ba người gom lại bên trong mui tàu th́ tù túng quá. Chưa đến bốn giờ, trời tối như đă về đêm. Ghe, nhà lấp lánh ánh đèn. Phụ anh Ba, anh rể của Vũ, nấu cơm, rồi ba anh em quay quần ăn cho xong cơm chiều. Độ nhậu hồi sáng với nhân viên khuân vác trên trạm, c̣n lưu giữ men rượu trong huyết quản. Ngầy ngật, bụng dạ lở đói lở no. Húp miếng canh, ăn uống qua loa cho xong, chúng tôi thả ḷng ṿng lên trạm thu mua, tán dóc với công nhân trên trạm. Khề khà câu chuyện đôi phút cho có t́nh tự làng nước, rồi kéo mấy cái thùng đựng hài sản ướp nước đá xây ra ngoài cửa ngồi. Thùng h́nh khối vuông, được ráp lại bằng sáu miếng nhựa cứng. Chúng tôi để mắt đến loại thùng này. Tháo ra, sáu miếng chồng lên nhau chỉ cao hơn gang tay. Mỗi miếng, đũ sức làm phao cho một người lớn. Ráp vào, lót túi ny long lớn cho nước đừng chảy thoát th́ thành thùng chứa nước ngay, rất hữu ích khi ra khơi. Tàu cần có một số thùng này khi ra khơi.
Chúng tôi ngồi vấn thuốc hút nh́n trời biển, nh́n mưa gió, nh́n người. Làng đánh cá nghèo. Dân nghèo bị cướp mất quyền tự do đi biển và buôn bán, càng khốn đốn hơn với loại tiền hồ cáo mỗi lần đổi tiền lại mất giá trị hơn. Quanh đây, không bông hồng kiêu sa, nhưng cánh hoa mộc mạc mặn mà, cũng dễ làm những cánh bướm đa t́nh ươm ấp mộng mơ, lạc lối quên đường.

Từ ngoài khơi nh́n vào, bên trái là văn pḥng, kho chứa nước đá, hải sản, bên phải là nơi công nhân cư ngụ. Phần nhà sàn trống lớn chính giữa dành chỗ cho công việc lên hàng, xuống hàng. Mỗi khi tàu mang nước đá cây đến hay lấy hải sản chở về thành phố, không gian nơi đây bừng tỉnh dậy. Đèn sáng choang, tiếng máy át tiếng người. Công nhân viên gọi nhau gom tụ lại nơi đây. Người làm hùng hục, các xếp đi đi lại lại chỉ chỏ, nhóm "vô tư" tà tà đứng xem chơi cho vui. Căn nhà trống trải bổng chốc trở thành chậc chội, người và hàng hoá chen lấn nhau. Sàn nhà ướt lênh láng nước tôm, nước cá cùng nước đá và thân người làm công th́ đẩm ướt mồ hôi. Tiếng người khuân vác chuyện tṛ ồn ào. Máy phát điện, máy xay nước đá đua nhau chạy rầm rĩ. Bất kể đang là ban ngày hay giữa lúc đêm khuya, trạm như cái chợ đang nhóm. Người ta hối hả làm cho xong, để nghỉ ngơi hay trở lại nhậu tiếp. Mấy anh em chúng tôi th́ chờ nước đá lên hết để dọn dẹp tàu, đi kiếm cà phê hàng quán lai rai, hay chờ hàng xuống xong để tháo dây rời bến.
Xong công chuyện, trống vắng lại trở về.
Không có hàng lên hàng xuống, lúc nào có độ ăn uống nhậu nhẹt, trạm mới có phần sống động lại. Mặt xoay ra cầu tàu của khu tiếp nhận hàng để trống thoáng, gió hắt mưa ướt phía ngoài, bên trong cũng khô ráo dễ chịu.

Nhưng lắm lúc, gian nhà hiền hoà, trông có vẻ vô tội vạ này không chỉ đơn thuần là nơi phục vụ cho việc mua bán hải sản, nó bất chợt bị biến thành trại tạm giam và khu tra tấn của bọn cộng sản bất nhân.
Tàu vượt biên không may bị chận bắt được, bọn công an kéo về đây để tra tấn người và vơ vét cướp đoạt tiền của, trước khi giải giao thuyền nhân đến các cơ quan khác. Đồng bào tôi bị cột trói, đẩy ngồi trên sàn trạm. Với cửa đă bị lịnh đóng kín và che bít bùng, không ai biết được bao nhiêu người đang dở sống dở chết, vất vưởng âu lo, c̣n lại bên trong chiếc tàu bất hạnh. Trạm đầy ấp người. Bọn công an, đám lính vơ trang ở địa phương xoay quần người bị bắt. Thuyền nhân, người sơ mi tay dài, tay ngắn, có áo trắng, áo màu, có áo đen bạc mốc…Dân tỉnh thành hay người trốn đi từ thôn xóm, áo quần cùng giống nhau cái xốc xếch, bê bết dầu máy hay bùn đất. Người bị trói, ngồi co ro, mất thần sắc nh́n những khẩu súng đang gh́m chỉa hăm doạ. Mặt kẻ chiến thắng vênh váo khoái trá; thêm một dịp vừa chia chát tiền vàng cướp được bửa nay, vừa lập công với đảng, dâng thành tích cướp của bắt những "thằng phạm", "con phạm" vượt biên.

Chữ nghĩa của cộng sản gọi đồng bào tôi như thế đấy!

Thế đấy, đồng bào tôi đă "phạm" cái tội mà cái đảng thổ tả và "nhà nước" cộng sản rất là căm thù cấm kỵ, đấy là "tội" t́m Tự Do!

Ngước nh́n lên cây đà ngang trên trần nhà, nơi hai người đàn ông bị trói treo trên ấy để chúng nó tra khảo; tôi ngẩm nghỉ, biết đâu, có ngày xác ḿnh cũng bị tụi cộng sản kéo về, treo lên trên đấy, để chúng nó hăm doạ những người c̣n toan tính vượt biên.
Tôi c̣n thấy đó, trong góc pḥng, mặt bàn đầy ấp những ổ bánh ḿ , các mảng thịt heo quay, thịt vịt, thịt gà thơm béo. Tai tôi c̣n nghe vang dậy tiếng khóc thét kinh hoàng của mấy đứa trẻ con trên tàu bị lũ công an hung bạo bợp tay té nhào, v́ ngây thơ dám mó tay vào bánh vào thịt của tàu đă bị chúng nó cưỡng đoạt.

Có phải chăng, chủ nghĩa cộng sản đă huỷ diệt linh hồn con người, biến những kẻ cầm súng theo chúng nó trở thành động vật mất nhân tính, mất hết t́nh người ?!
Có phải, cái loài cộng sản là những con thú dại, loài quỷ quái. Cái giống sinh vật được tạo ra để chỉ biết cúi đầu và gục mặt để tôn thờ loài hồ cáo súc sinh, để phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản bạo tàn ?!

Ngước mắt ngó lên trên bến trạm,
Nh́n những thuyền nhân bị bắt về.
Tay trói, gục đầu, lời đă cạn.
Tiếng khóc trẻ thơ, dạ tái tê.

Nh́n người, chợt thấy ḿnh thân thuộc
Tôi khóc hay sao, nước mắt nào?
Tự Do ơi hỡi, tim xót buốt!
Dân tôi bất hạnh lắm thương đau!


- Ê, có tin vui!
Nghe tiếng anh Ba phía sau, chúng tôi quay lại, thấy anh Ba đang đi tới.
Anh hớn hở báo tin:
- Chiều nay ḿnh về! Anh mới lên văn pḥng nhắc vụ cho tàu ḿnh về. Họ nói, công nhân trên trạm ăn cơm xong, khoảng sáu giờ sẽ xuống hàng. Có bao nhiêu th́ tàu ḿnh chở bấy nhiêu. Chút nửa ḿnh chạy về.
- Bắt ḿnh neo tàu chờ ba hôm nay, cũng ép lắm rồi.
Vũ càu nhàu, nhưng hài ḷng. Anh Ba vui vẻ bảo chúng tôi:
- Anh coi tàu cho, hai anh em lên quán kiếm ǵ uống đi
Vũ đứng dậy, vỗ vai tôi:
- Đi mày, tụi ḿnh lội đi kiếm cà-phê uống chơi! Cà phê sửa hả anh Ba?
- Ừ ,… ǵ cũng được mà. Hai đứa cứ đi, anh nằm nghỉ một chút!
Anh Ba cười dễ dăi với hai thằng em.
Đi ngang qua cái bàn nước gần văn pḥng, Vũ dừng lại, mượn cái ly để đựng cà phê đem về cho anh Ba.

Đúng là lội. Đường lên quán cà phê rất hẹp, vừa đũ cho hai người tránh nhau. Mặt đường trồi sụp, uốn ngoằn nghoèo sát theo hai bên nhà vách lá cũ kỹ. Bùn trơn trợt và uớt nhăo giữa các kẽ ngón chân. Có chỗ, chúng tôi phải lom khom bước lên trên thềm nhà, mái lá thấp là sà trút nước mưa ngay lên người đi bên dưới. Dân làng nghèo, sống khắc khổ. Đánh lưới được tôm cá ngon không dám ăn, phải bán đi để đổi gạo, đổi dầu. Quán sống được chắc nhờ vào buôn bán cho công nhân viên, người làm ăn buôn bán xa nhà.
Căn nhà lá nhỏ, như những căn nhà hàng xóm. Ánh đèn dầu vàng, đũ soi sáng bốn cái bàn gỗ thấp. Vậy mà hai bàn đă có khách ngồi. Bên các thức uống như cà phê, nước ngọt, dỉ nhiên quán có bán rượu. Rượu trắng, rượu thuốc và đồ nhậu như khô mực, cá khô bầy đầy trên quầy. Vũ uống rượu vững lắm, nhưng anh em chúng tôi không ai ghiền rượu, chỉ uống cho công việc chạy chọt được trơn dễ mà thôi.
Có chuyến chạy, có tiền vô, chúng tôi khao ḿnh ly cà phê trước. Như các quán b́nh dân trong thôn xóm, quán chỉ có loại cà phê "kho", pha trước và ngâm nấu trong b́nh. Vị cà phê đậm đắng, có mùi khét hơn là thơm cà phê. Chẳng biết trong thời buổi hàng hoá đă bị cộng sản cai trị, mọi thứ nhu yếu phẩm đều phải sắp hàng chờ mua ở hợp tác xă, người ta cùng túng đă rang nướng những thứ chi để pha trộn thành bột cà phê. Riết rồi cũng quen dần hương vị, nhưng có đường hay sửa ngọt vào th́ dễ uống, ngon miệng hơn. Quán vùng dân nghèo, được uống ly cà phê sửa như thế này là đă sang lắm rồi. Hết rồi, chúng tôi không dám ước mơ được thưởng thức lại hương vị độc đáo của từng giọt Café du Monte ngày nào. Dưới tàu có hộp cà phê đă xây, ít mùi khét hơn, chịu khó nấu nước pha một chút cũng có cà phê nhâm nhi vậy. Nhưng dầm mưa lội trong bùn śnh ra quán, ngồi uống cũng cái thú vị "ngồi quán" uống cà phê. Hơn nửa, chúng tôi cũng cần phải biết qua t́nh h́nh địa thế trên đất liền. Có dịp la cà quanh xóm, để công an, đám quân vơ trang, cùng dân làng quen mặt vẫn có lợi hơn sau này.
Tối nay chạy về , nhằm lúc chạy ngược gịng nước, ít nhất cũng phải sáu tiếng đồng hồ mới về tới bến. Vũ coi máy, anh Ba với tôi thay nhau cầm lái. Quán không đông người, chúng tôi thư thả ngồi nhâm nhi cà phê, để yên cho anh Ba nằm nghỉ ngơi trước. Cũng như anh Ba, Vũ rất khéo ăn nó, lại từng trăi về làm ăn buôn bán, nên Vũ đối đáp và bắt chuyện với mọi người chung quanh rất dễ dàng. Tuyệt nhất là những bài vọng cổ của anh Ba, có anh ngồi chung, thế nào cũng có người yêu cầu anh làm vài bản; không mồi ngon người ta cũng thấy buổi nhậu hứng khởi, thật đậm đà. Nhờ có anh Ba và Vũ, chúng tôi hoà nhập vào đoàn tàu và dân cư xung quanh dễ dàng hơn.

Chuyến này, không có bao nhiêu thùng hàng. Tất cả các thùng hải sản đă được ướp nước đá giữ lạnh, từ mấy hôm trước rồi. Bây giờ, công nhân chỉ mở nấp ra, kiềm lại và đổ thêm nước đá xây vào để tôm cá có đũ độ lạnh. Chừng ba mươi phút, các thùng hải sản được chất gọn trong khoang tàu.
Vũ cho máy chạy. Mấy ngày nay, mới được nghe lại tiếng máy tàu ḿnh. Tiếng máy tàu nhắc nhở và cho tôi niềm hy vọng, c̣n có một ngày tàu sẽ đưa tôi ra khơi. Từ đây, chỉ cần may mắn phóng tàu ra ngoài biển, chạy hết tốc độ chừng ba mươi phút là coi như thoát được gông cùm cộng sản.
Khởi từ điểm này, thoát đi không khó lắm. Cái khó là làm sao rước đón được gia đ́nh thân hữu lên tàu, lọt qua tai mắt của công an cùng các tàu tuần và trạm kiểm soát biên pḥng, trước khi ra đến trạm thu mua này. Đứng ngoài mũi chờ tháo dây, nh́n đại dương rộng mở đợi chờ, ḷng bồi hồi ước mơ. Đến đây bao nhiêu lần rồi, nhưng tàu lại lấy hàng rồi lại phải quay trở về.

- Tụi tui đi nghen!
Tiếng anh Ba gọi lớn từ giă người trên trạm, nhắc tôi trở về thực tại. Chú trưởng toán công nhân, sốt sắng bước xuống cầu tháo dùm dây, hẹn với chúng tôi:
- Ít bửa ra đây nhậu tiếp!
Chờ tôi đón chụp khoanh dây xong, chú Sáu xô mũi tàu ra ngoài cười thân mật:
- Rồi, chạy đi!
Tôi cám ơn chú, chống sào đẩy mũi tàu cho xoay thêm ra ngoài. Anh Ba kéo cần lái qua phải và tăng thêm tốc độ, đem mũi tàu quay ra khỏi bờ, rồi chạy ṿng vào ḷng sông dẫn về thành phố.
Tàu chúng tôi rời bến, người trên trạm cũng tản mác, về nghỉ ngơi. Trạm tắt bớt đèn, chỉ c̣n vài bóng ánh vàng mờ mờ trong vài gian nhà công nhân. Đêm tối, trời mưa, tàu thuyền vắng, tôi tiếc rẻ ngoài nh́n biển cả đang xa mờ dần phía sau. Kéo đầu cây sào trong nước thêm một lúc, để rửa cho sạnh bớt bùn śnh của đáy sông đă bám vào. Tôi gát cây sào tre nằm tựa vào trong ḷng khoang, rồi đi lên mui ngồi vấn thuốc hút, chuyện tṛ với anh Ba và Vũ.
Tàu chở ít, nhẹ, nhưng gặp lúc gịng nước trong sông đang đổ ra biển, phải chạy nước ngược về. Ngoại trừ tiếng máy dầu cặn và đèn từ tàu chúng tôi, sông nước tối vắng. Chạy suốt hơn một giờ, không thấy bóng dáng chiếc tàu nào. Thời gian này, không ai đi đánh cá về, và cũng không thấy tàu ra biển. Tàu ra biển th́ chỉ có tàu công an đi tuần hay tàu vượt biên. Chiếc tàu của dân chúng trở về th́ chỉ có đi vượt biên lạc hướng hay bị biển động phải quay vào.
Anh Ba gọi tôi:
- Hồi chiều ăn sớm quá, chắc ai cũng sót ruột, để anh xuống nấu miếng cháo anh em ḿnh ăn thêm.
Anh Ba siêng và chịu nấu ăn lắm. Anh làm thức ăn ngon, chế biến đồ nhậu rất tài t́nh, nhất là món canh chua.

Vào trong sông có bớt gió, nhưng mưa cũng c̣n khá nặng hạt. Về khuya, đoạn sông thưa vắng nhà dân, lâu lắm mới thấy ánh đèn trên bờ. Ít nhà, ít có lưới đáy giăng, thỉnh thoảng tôi mới mở đèn pha xem chừng sông nước và cột đáy. Dưởng máy để chờ thời cơ, tàu b́nh thản chạy về bến nhà. Đêm vắng buồn mênh mang, nhớ gia đ́nh, nh́n tương lai mờ mịt như bầu trời đêm nay.

Bổng tôi nghe như có tiếng súng. Loạt đạn ngắn, nghe xa phía trước. Tôi gọi xuống mui:
- Ê Vũ , mày có nghe ǵ không, h́nh như có tiếng súng bắn phía đâu đằng trước tàu ḿnh.
Anh Ba bận xem chừng nồi cháo. Vũ đứng lên bảo tôi:
- Chắc ở dưới này máy chạy ầm ầm, tao với anh Ba có nghe ǵ đâu.
- Ừ, tiếng súng ở xa, chắc trên này mới nghe.
Hai đứa chúng tôi lặng yên lặng, lắng nghe một lúc cũng không nghe tiếng súng nào cả. Tôi nghỉ, cũng có thể tôi nghỉ ngợi lắm chuyện đă qua, trí óc lầm lạc.

Vũ vấn và đốt cho tôi điều thuốc. Chúng tôi hút thuốc, mỗi đứa đều có lắm ưu tư, chẳng ai c̣n muốn nói với nhau tiếng nào. Đêm khuya, có tiếng súng khu trạm công an biên pḥng, thường v́ có tàu của vượt biên bị đuổi bắt. Lại phải chứng kiến cảnh bà con ḿnh bị hành hạ hay xác dân lành trôi dạt trên sông nước. Trách nhiệm và an toàn cho thuyền nhân trên tàu trong ngày vượt biển, lắm điều nằm ngoài khả năng của chúng tôi. Tính toán thành hay bại, sống hay chết bị tuỳ thuộc vào Ơn Trên, số mạng may rủi.
Tôi mở thêm đèn trên mui tàu, và dùng đèn pha thường hơn để tụi tàu biên pḥng không bắn lầm.

Anh Ba, cầm tách nước trà lên mui ngồi với chúng tôi:
- Cháo chín, anh ăn xong rồi. Để anh coi lái cho, hai đứa xuống ăn đi.
Giao cần lái cho anh Ba, chúng tôi cám ơn anh và cùng tuột xuống bên dưới mui kiếm cháo ăn. Mặc dù không c̣n gạo ngon thơm như thời trước khi bọn cộng sản cướp nước, cháo trắng của anh Ba nấu vẫn hấp dẫn lắm. Anh tỉ mỉ từ việc canh lửa, canh nước, quậy cháo… Hạt gạo bong nhừ, mỗi muổng cháo nóng, ăn không chi hết cũng đă ngon, thêm chút vị mặn béo của trứng vịt muối th́ ngon tuyệt vời.

Trong trại tù cộng sản, cơm là gạo mốc và sâu quệnh thành từng cục to muốn bằng nắm tay, lại trộn các thứ khoai hư khoai sùng. Hôm nào được bè bạn chia cho miếng nước cơm, uống chầm chậm cho lâu hết, quư vô cùng.
Tối nay, có gạo để nấu cháo, chúng tôi may mắn lắm!
Dân nghèo bây giờ chỉ c̣n biết trông mơ có được bát cơm, nấu bằng hạt gạo như ngày xưa.
Thế đấy, cái đảng cộng sản chết tiệt của chúng nó lại gọi là "giăi phóng"!

Ăn uống xong, Vũ với tôi leo lên mui ngồi hút thuốc nói chuyện với anh Ba, cho có anh em. Tiếng súng lúc nảy, như c̣n văng vẳng trong đầu, câu chuyện của chúng tôi lừng khừng, rời rạc. Ngồi hút điếu thuốc chưa xong, bổng có loạt đạn, bắn đến hướng chúng tôi. Chưa ai nhận hiểu ra được chuyện ǵ xảy ra th́ thêm mấy loạt đạn ngắn, chát chúa, bay tới tấp và đèn pha sáng rực rọi thẳng vào tàu.

- Dừng lại! Công an biên pḥng đây!

Cùng lúc với tiếng loa gọi, chiếc tàu đánh cá cao lớn, dựng mũi rẻ nước, phóng ào ào tới, rồi bẻ lái sàng ngang nhập vào hong tàu chúng tôi. Sức ép của chiếc tàu công an đè dẹp mấy cái vỏ bánh xe treo bên hong.
Anh Ba vội vă hạ thấp tốc độ. Vũ thả nhanh người xuống dưới mui, gài trả về số lui, để thắng tàu lại. Nhờ chạy ngược nước, tàu dừng lại thật nhanh.

Phập!
Cây móc từ tàu công an cấm lên mũi tàu, kéo ghịt tàu chúng tôi vào.
Tôi chạy ra mũi, thả ṿng vỏ xe xuống, để chêm thêm giữa mũi tàu đang bị sóng nhồi, va đập mạnh vào thân gỗ cứng cáp của loại tàu đánh cá.
Đón cuộn dây thằng công an thảy qua, tôi quấn cột cho hai tàu kè nhau.

- Đ.M. tàu vận chuyển của thằng Ba hả?
Anh Ba lớn tuổi, thủ vai chủ tàu. Ba Thơ, trưởng pḥng vận chuyển, thường hách dịch gọi tàu chúng tôi là tàu của thằng Ba. Hằn đứng ngay ngoài mũi tàu, lên tiếng hỏi và nhảy sang trước. Một tên công an ôm AK phóng nối theo. Nhiệm vụ của Ba Thơ chỉ ḷng ṿng trên văn pḥng xuống bến tàu, nhưng hắn khoái đeo súng đi theo công an bắt ghe tàu vượt biên lắm. Lợi nhiều thứ, vừa tạo thành tích nhiệt t́nh, lập công dâng đảng, vừa có phần chia chát số tiền vàng cướp được từ thuyền nhân.

Nghe tiếng Ba Thơ, tôi yên tâm đôi chút. Hắn nạt hỏi như thế, cho ra vẻ có uy quyền chưởi la dân chúng, chớ hắn quá quen thuộc h́nh dạng từng chiếc tàu chở hàng cho công ty. Nghe hắn lớn tiếng hỏi thế, tức là hắn đă biết tàu và anh em chúng tôi, th́ chắc là cái đám công an sẽ không xét hạch giấy tờ tuỳ thân cá nhân. Dùng giấy tờ của em trai, tôi phải cố né tránh bị hỏi giấy tờ.
Nh́n đống thùng hải sản nằm trong mấy tấm nhựa che mưa gió, Ba Thơ hất hất khẩu K54 trên tay ra lệnh cho tôi:
- Chở bao nhiêu đứa vượt biên hả?... dở tấm bạt lên cho tao coi!
Nghe Ba Thơ hỏi xét, thêm hai tên công an xách súng phóng sang.

Đứng gần mấy thằng công an mặt vênh váo, máu hận sôi sục. Nh́n cái lối tay cầm cây K54 lúc lắc, miệng chỉ lo láp váp, tôi ngứa tay muốn đánh giật lấy cây súng của Ba Thơ. Kề súng vô đầu Ba Thơ là ba thằng nhóc công an trên tàu đứng kế tôi phải bỏ hết súng đạn xuống sàn tàu. Cái đám bên tàu mà bắn sang, th́ ít nhất bốn thằng đồng chí đồng rận với chúng nó phải chết trước.

Tôi nhịn nhục, nhảy xuống khoang, kéo các tấm bạt cho bày các thùng hàng ra, để Ba Thơ và đám "ḅ vàng" muốn kiếm ai th́ kiếm. Bốn tên lăng xăng xúm xít, lật ván lót trên khoang tàu, rọi đèn xem dưới hầm máy.
Không thấy đồng bào vượt biên trên tàu, Ba Thơ xoay qua hạch hỏi:
- Đ.M. tụi mày mấy hôm nay chạy tới đâu rồi?.... biển động quá mà! …tụi mày mới quay lại phải hong?... Đ.M!... giấy chở hàng đâu ?
Lợi dụng cơ hội để tránh đứng gần mấy thằng công an, tôi quay người bước đi lên mui:
- Để tui lên giữ cần lái cho anh Ba xuống lấy giấy tờ.

Anh Ba đưa sổ sách cho Ba Thơ xem, nhẫn nhục cười hề hà cho qua:
- Có chuyện chi vậy chú Ba!... tụi tui nằm húp cháo ngoài ngoải mấy bửa nay, trạm mới cho xuống hàng để chạy d́a đây mà chú?
Cũng may, nồi cháo với hột vịt muối c̣n đó. Ba Thơ mà bắt được lấy tôm trong thùng nấu ăn là phải tốn tiền tốn rượu với hắn.
Trả sổ sách, Ba Thơ hằn học ra lịnh:
- Tụi bây!... Chở tao với mấy đồng chí đây đi kiếm tàu vượt biên… Đ.M… mới thấy đó, nó lủi trốn đâu mất. Tao t́m thấy, tao nẹt bể đầu hết!

Anh Ba t́m cách kèo này:
- Chú Ba biết mà, cái máy tàu tụi tui nó rề rề lắm, mần sao mà chạy đuổi với bắt được ai chú ơi!
- Đ.M. cần ǵ chạy cho lẹ mậy!... Có tàu tụi bây dí chận nó, tao kêu tụi biên pḥng tới bắn chết mẹ nó hết.
Ḷng dạ đâu mà giúp sức cho bọn súc sinh này, anh Ba ráng t́m cách gỡ rối:
- Mấy chục thùng tôm này bị nằm kho cả ba bốn ngày nay rồi đó chú Ba. Trạm sợ hư mới kêu tụi tui chở về. Bây giờ chú bắt tàu chạy ḷng ṿng, chậm lục, tan hết nước đá, tui sợ tôm nó thúi hết đó chú Ba à.
Hải sản và vận chuyển là trách nhiệm của Ba Thơ, chớ không phải đi bắt vượt biên. Ba Thơ sợ tôm hư bị công ty khiển trách, nhưng c̣n ráng nạt bừa:
- Lải nhải cái con mẹ ǵ, tụi bây muốn chạy d́a th́ tao cho chạy đó... Đ.M. tao đi với biên pḥng.
Khoát tay bảo ba tên công an đứng tần ngần chờ lịnh:
- Đi! đi về tàu với tao!

Chúng tôi thở phào, nghe nhẹ nhỏm trên người. C̣n xót đau nào hơn, khi phải chở cái loài dă thú này đi lùng bắt đống bào tôi. Anh Ba đi theo sau Ba Thơ và cái đám công an ra ngoài mũi, chờ tụi nó lên hết để tháo dây ngoài mũi.
Ba Thơ leo về tàu xong, quay lại hù doạ:
- Tụi bây khôn hồn à nghen… có thấy tàu tụi nó trốn đâu, về báo văn pḥng, th́ nhà nước c̣n thuởng công cho.
Thảy cuộn dây lên trả lại cho thằng công an, anh Ba chống tay vào thành tàu biên pḥng xô cho tàu ḿnh dạt ra, nói xuôi theo:
- Dà... th́ thấy ǵ là tụi tui cho chú Ba hay ngay.

Chiếc biên pḥng tách ra, quay đầu, rú máy phóng vọt ào ào ra hướng cửa biển. Phút chốc đă thấy nó đang rọi đèn xa phía sau. Chiếc tàu ấy là tàu đánh cá của đồng bào ḿnh biến chế thêm để vượt biển, không may bị chúng nó bắt. Tụi biên pḥng lấy nó làm tàu đi tuần, đi bắt tàu vượt biên. Thấy cách nó chạy là biết máy của nó lớn mạnh lắm, chớ không như cái John Deer già nua trên tàu. Không quen biết với t́nh h́nh địa phương, bà con ḿnh dễ lầm tàu công an biên pḥng với tàu đánh cá, không biết chính nó là tàu của công an. Tụi nó thâm lắm!

- Ḿnh dọt được rồi!
Vũ nói với tôi và gài số cho tàu chạy tới.
Bị tàu biên pḥng kè nảy giờ, hai chiếc thả trôi nằm xoay ngang. Nước ngược, đẩy tàu chúng tôi lùi một đoạn khá xa. Tôi lấy lại hướng, cho tàu chạy về bến công ty.
Anh Ba lên mui, đến ngồi cùng băng ghế với tôi, Vũ vẫn đứng chồm người qua khung cửa trổ lên mui, khoanh tay gát trên nấp mui. Ba anh em chúng tôi ngó mông lung trong màn đêm, thẫn thờ cầu nguyện cho đồng bào tôi gặp được nhiều may mắn, trốn thoát khỏi móng vuốt loài quỷ đỏ cộng sản đang lùng kiếm.

Tự Do ơi Tự Do!
Ngày nào c̣n cộng sản, quê huơng tôi c̣n lắm ly tan, lắm đoạ đày!

Tháng Tư, 2011

3.



Đêm thật dài, giấc ngủ chập chờn chóng vánh theo thân tàu đang nương theo sóng. Tôi khẻ trở ḿnh trên hai miếng ván ghép lại làm băng ghế ngồi lái tàu, và cũng là chỗ ngủ của tôi. Trên băng ghế có mái che nhỏ, đũ che nắng và sương. Hôm nào không mưa to, tôi ngủ trên mui. Tuy phải chui vào nóp để tránh muỗi, nhưng nằm trên này trống khoáng, nghe thấy được t́nh h́nh lùng xét của công an từ xa, nhanh lẹ hơn là nằm trong mui kín bít bùng. Rờ lớp đệm làm nóp đă thấm hơi sương lạnh ướt, tôi đoán chừng chắc cũng gần sáng rồi.

Hồi tối, Vũ rót hết phần rượu trong chai vào chén đẩy sang tôi:
- Hết mẹ nó rồi! thôi …tao với mày …chia hai nghen mậy, … mai, mà không mắc sửa máy, tao… tao đi kéo thêm chai nữa mới đă phải hong mậy !
Như phần rượu c̣n sót lại, bạn bè chia nhau uống lần này, biết đâu cũng là lần sau cùng. Hôm nay và ngày mai không phải là ngày sửa máy. Vũ cố ư mượn rượu giả say nói lớn tiếng cho các ghe tàu đậu kế cận nghe để họ không lưu ư ḍm ngó khi chúng tôi bỏ chuyến, nằm bến cả hai ngày.

Theo dự tính, sáng hôm nay từ chuyến xe đ̣ rời bến sớm nhất, gia đ́nh và thân hữu sẽ tuần tự đi đến các điểm hẹn, rồi sẽ xuống tàu theo từng nhóm nhỏ và phương cách khác nhau. Trưa hôm qua, anh Ba, anh rể của Vũ đóng vai chủ tàu và là tài công chính, đi báo với pḥng vận chuyển là máy tàu bị hư, không nhận đi chở hàng. Với cớ máy bị hư, anh Ba nói là phải về thành phố t́m mua đồ phụ tùng, để về thu xếp đem vợ và hai con đi theo. Dưới tàu, phần Vũ và tôi tháo nắp máy, bày biện dụng cụ và đồ phụ tùng, tạo cảnh máy hư. Thỉnh thoảng, chúng tôi tay lem luốc dầu máy, thay nhau đi t́m mượn dụng cụ ở các ghe đậu quanh, như đang lo sửa máy. Thực ra, chúng tôi chỉ kiểm điểm lần chót tất cả hệ thống bơm nước và vận chuyển từ máy ra ngoài chân vịt, để sẵn sàng cho chuyến vượt đại đương.

Sau những tháng ngày dài ngấm ngấm t́m tạo điều kiện, t́m cơ hội để vượt thoát, bác của Vũ đă quyết định ngày đi. Tối nay, chiếc tàu 3392 này sẽ làm một chuyến vận chuyển mà không bao giờ trở lại quê hương yêu dấu.
Tôi trăn trở, đi là trốn lánh, xa rời quê hương, bỏ lại đồng đội chiến hữu. Rời bỏ quê hương là bỏ mất những ǵ cao quư nhất.
Một lần đi, có lần trở lại ?
Nhưng ở lại th́ tiếp tục bị tṛng cổ, trói tay, cùm chân trong cái lao tù mới, chúng nó gọi là quản chế. Ngày lại ngày, đường tương lai bí cùn, đen thẩm và là chuỗi ngày dài gánh nặng âu lo của gia đ́nh.
Nỗi thương nhớ ba mẹ và các em ray rứt trong ḷng, gia đ́nh đă hy sinh cho tôi rất nhiều để có được cơ hội vượt thoát như hôm nay. Từ khi ra đơn vị, chỉ một lần về phép. Ngày đ́ đường, chưa trọn ngày c̣n lại với gia đ́nh. Thăm mừng chưa xong đă đến lúc từ biệt. Trở lại đơn vị, Chuẩn Úy Tuyết thay tôi dẫn đơn vị đi đổ toán, đạp ḿn, cụt chân trái. Chỉ bốn ngày trước khi Tuyết đi phép kết hôn! Thiếu người, tôi phải theo toán đi ngay, không kịp đi thăm Tuyết, trước khi bệnh viện chuyển Tuyết đi. Lần đi phép duy nhất, gia đ́nh thấy mặt, rồi tôi lại biệt tăm. Ba mẹ trông mong tin tức, không biết tôi c̣n sống sót hay bỏ xác nơi đâu. Khi tụi cai tù "quản giáo" cho gởi thư th́ gia đ́nh mới biết là tôi đă bị bắt từ trưa ngày 30 tháng Tư và đang bị tù đày.

Tháng Tư Đen là địa ngục trần gian!
Là tang tóc đổ lên đầu dân Việt!


Hôm nay, nh́n lại đă gần hai năm ẫn náu trên tàu. Nhớ hôm đạp xe vào ruộng, từ giả ba mẹ để xuống tàu ẩn náu và t́m cách vượt biên với Vũ, ba ân cần đưa cho tôi non chục trứng gà:
- Con mang xuống tàu cho mấy anh em lai rai.
Từ khi ba tôi bất cộng tác, không chịu giăng dạy học tṛ theo giáo điều của bọn cộng phỉ, bỏ trường lớp về nông thôn làm ruộng, ba mẹ tôi sống chật vật lắm. Đi tù về, thân phận tôi, tôi lo c̣n chưa xong, nói ǵ đến việc đáp đền ơn sinh thành dưởng dục Thái Sơn.
Trứng gà c̣n hơi ấm, ba mới lấy ra từ ổ trứng đang ấp, tài sản rất lớn của ba mẹ tôi trong lúc này. Tôi cố cầm giữ xúc động:
- Con cám ơn Ba và Vú. Ba cho phép con được để trứng lại, cho gà mẹ ấp tiếp tục, tội nghiệp công của gà mẹ lâu nay… Hoàn cảnh nhà ḿnh sa sút anh em đều biết. . . Ba và Vú tha lỗi cho con đă không phụ giúp mẹ cha trong ngày cao tuổi và lúc gặp khó khăn.
Mẹ tôi quay đi, bước vội vào nhà bếp. Mẹ đi tránh dấu nước mắt khi nghe tin phân ly; dù mẹ đă từng hối thúc tôi t́m đường vượt biển và biết trước sẽ có lúc tôi phải đi. T́nh mẫu tử suối nguồn dạt dào. Mới những năm vừa qua, mẹ đă bao lần lội ruộng, băng rừng, ngủ vất vưởng qua đêm chờ sáng vào thăm con. Bây giờ, con lại ra đi, lần này từ biệt hay là lần vĩnh biệt.
Ba quen trầm tỉnh nhận giữ mất mát:
- Con chỉ cần lo sao cho các em sớm đoàn tụ là Ba và Vú măn nguyện lắm rồi. Anh em dưới tàu cũng thừa biết, có thời gian nên tính toán cho thận trọng, làm một lần cho thành công. Ba hay nói đi nói lại câu nói của anh hùng Nguyễn Thái Học, con ghi nhớ: "Không Thành Công, cũng Thành Nhân"
Ba đưa tay cho tôi bắt. Tôi ngạc nhiên, cầm lấy bàn tay của Ba và nh́n ánh mắt nghiêm nghị của Ba:
- Con xin hứa! Cám ơn Ba rất nhiều. Xin Ba và Vú giữ sức khoẻ chờ con. Con thoát được th́ gia đ́nh ḿnh sẽ đoàn tụ.
Nghe tiếng tôi bước vào gọi t́m, Mẹ gạt nhanh nước mắt, nh́n tôi gượng cười:
- Củi c̣n ướt, khói quá, làm cay mắt Vú… Thấy cũng chiều rồi, Vú tính làm miếng cơm, cho cha con ăn. Ba khuyên nên để con đi sớm, không nên nấn ná trong xóm này lâu. . . Thôi, con đi với anh em… mạnh giỏi!
Đến lúc này, tôi nghẹn lời, nh́n mẹ tôi giữ nụ cười qua màn nước mắt.
Tiếng dân chúng chở hàng ra chợ buôn bán nghe nhộn nhịp hơn, tôi hé nóp nh́n những ngọn đèn dầu trên ghe xuồng, lung linh nhấp nhô theo nhịp bơi chèo ngoài sông.
Không ngủ thêm được, nằm cũng không yên, tôi chui ra khỏi nóp, quấn mền ngồi đốt thuốc hút.
Sáng sớm, bến tàu thật yên tỉnh. Hàng đèn vẫn c̣n đó, ánh sáng vàng buồn quen thuộc trong đêm đen. Trụ đèn, thân gầy guộc đứng gục đầu nh́n sóng nước, như tiếc sao ḿnh không được làm một con tàu, như những chiếc đang cột chen chút nhau quanh bến, biết đâu sẽ có một ngày nào đó, được cùng thuyền nhân vượt thoát đến bến bờ Tự Do.
Hôm nay trời không mưa, gió lặng, sóng nước thật yên b́nh.
Tôi nh́n ra hướng cửa biển, bâng khuâng lo lắng, thầm cầu nguyện ơn trên cho yên b́nh đến tất cả thuyền nhân, với chuyến ra khơi của chúng tôi.
Có tiếng động bên dưới mui tàu, chắc Vũ cũng không ngủ được, đă thức dậy sớm. Tôi ngồi nán lại, hút cho hết điếu thuốc. Muỗi ở đây trông như đă quen hay cũng ghiền khói thuốc. Mới ngồi dậy đốt xong điếu thuốc th́ chúng nó ào ào kéo nhau bâu bám khắp nơi có da thịt. Lấy tay đuổi chỗ này, chúng đáp vào nơi khác. Tôi bất cần, bỏ mặc chúng châm chít, cứ ngồi thưởng thức điếu thuốc đầu ngày, nghe chúng vi vo bên tai:
- Như thế này là nhất rồi, hồi bị tống vào trong connex làm ǵ có nóp, có mùng mền.
Nh́n cái bụng con muỗi ph́nh to tṛn mà vẫn cấm chúi đầu đâm hút trên tay tôi:
- Lũ ruồi muỗi chuột bọ chúng mày y hệt như loài súc sinh cộng phỉ, hở ra là bâu vào cắn hút máu mủ để sống!

- Ê!... Vinh!... Cà phê, mậy!
Vũ hé nắp mui tàu, gọi tôi trở về với thực tại.
Lấy mền quạt mạnh xua đám muỗi bay cho xa, tôi thả người tuột lẹ xuống mui rồi đậy nấp mui lại.
Ghe tàu đậu kế cạnh c̣n yên ngủ. Như pḥng chung vách ván, chúng tôi e dè kín đáo để bàn tính thêm những việc cần thiết cho chuyến đi hôm nay. Chưa được hai năm, nhưng mong đợi làm ngày tháng thấy dài đăng đẳng, rồi đến ngày ra khơi th́ lắm việc phải làm cho kịp với thời gian.
Cảnh tượng đồng bào vượt biên đă phải trả cái giá cho ước vọng tự do bằng oằn người chịu đựng trận đ̣n thù tra tấn, bằng sinh mạng của ḿnh, tất cả uất hận nằm trong kư ức, giờ trỗi dậy, nghe xót đau chừng như mới vừa hôm qua.

Đă qua gần nửa thế kỷ, từ giữa thập niên 1950, h́nh ảnh "thuyền nhân" Vinh vượt tuyến t́m Tự Do trong phim "Chúng Tôi Muốn Sống", cùng tất cả các chứng tích và tội ác man rợ của chế độ cộng sản hảy c̣n đó, âm vang oán hờn. "Chúng Tôi Muốn Sống" vẫn là hiện thực, vẫn tiếp nối nhau tái diễn từ Bắc vào Nam. Hàng triệu "thuyền nhân" Vinh từ sau tháng tư năm 1975, may mắn thoát khỏi bọn cướp "cạn" cộng phỉ man rợ, c̣n phải đối đầu với bọn cướp biển dă man. Không ai có thể biết chính xác được bao nhiêu triệu "thuyền nhân" Vinh đă trốn đi mà không đến được bến bờ Tự Do như mong ước!

Tôi nh́n đồng hồ, ngày đă khởi đầu và vụt qua mất sáu giờ. Một ngày trọng đại khởi đầu cho chuổi ngày định mệnh. Định mệnh của con tàu 3392 này và tất cả sinh mạng nó sẽ mang theo. Đến lúc này, lo lắng trách nhiệm đă lấn át mọi sợ hăi.
Một lần đi, là măi măi thương đau!
Đă biết rằng, ra đi là chấp nhận cái chết, thuyền nhân của chiếc 3392 chỉ c̣n con đường duy nhất, phải vượt thoát !

Một Lần Đi - Sáng tác: Nguyệt Ánh

Sài G̣n ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một lần đi là một lần vĩnh biệt
Một lần đi là ṃn lối quay về
Một lần đi là măi măi thương đau
Người t́nh ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một lần đi là ngh́n trùng cách biệt
Một lần đi là muôn kiếp u sầu
Một lần đi là vĩnh viễn xa nhau
Giọt nước mắt cho anh
Giọt nước mắt cho em
Giọt nước mắt cho bạn bè
Lệ khóc cho mẹ già
Lệ khóc cho ngườ t́nh ở lại quê hương
Lần cuối xé tay nhau
Lần cuối khóc bên nhau
Lời cuối sao nghẹn ngào
C̣n đó bao đoạn đường
C̣n đó bao đoạn t́nh bỏ lại sau lưng
Sài G̣n ơi, ta có ngờ đâu rằng
Mẹ hiền xưa, giờ về cùng đất lạnh
Bạn bè xưa, giờ phương Bắc lưu đày
Người t́nh xưa, giờ đang sống điêu linh
Sài G̣n ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một ngày qua là một ngày ly biệt
Một ngày qua là ta mất nhau rồi
Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi


4.

NGH̀N TRÙNG CÁCH BIỆT



Từ giữa năm 1954 đến năm 1956, cả triệu người phải bỏ lại quê nhà cùng thân quyến ở miền Bắc, di cư vào Nam để lánh nạn cộng sản dă man. Chưa kể những người liều mỉnh lén trốn đi như đội trưởng Vinh trong Chúng Tôi Muốn Sống. Năm 1975,mặc dù bị ngăn chận ruồng bắt, cũng v́ Tự Do hàng triệu thuyền nhân đành phải chấp nhận mọi thương đau, kể cả mạng sống để vượt thoát loài cộng phỉ man rợ. Triệu ngườ́ may mắn c̣n sống sót th́ hàng trăm ngàn thân xác đă ch́m trong ḷng đại dương, vùi dập trong rừng thẩm và tù đày của cộng sản. Dân miền Nam than oán rằng: cột đèn mà đi được, cũng t́m đường để vượt biên!

Lúc chờ đợi th́ tháng ngày tưởng như không bao giờ đến, đến ngày ra đi th́ thời gian c̣n ở lại với quê hương như hôm nay sao quá ngắn ngủi. Vũ với tôi bây giờ ngồi thừ người ra với những luyến tiếc, ưu tư, lo nghỉ, biết bao điều chồng chất và xoáy ṿng trong đầu óc.
Phần tôi, khi từ giả để trốn xuống tàu với Vũ, gia đ́nh đă coi như là đă mất tôi rồi. Ba tôi có một thời đóng quân ở Phú Quốc, nên khá quen thuộc với tàu thuyền qua lại trên biển. Ba rất lo âu khi thấy chiếc tàu của chúng tôi. Vỏ tàu mũi bầu đă cũ, loại người ta chỉ dùng để chở cây chở hàng trên sông. Với cái mũi bầu bằng như thế này, tàu sẽ khó điều khiển, không thể chẻ sóng biển để chạy được mà c̣n dễ bị sóng đập bung ván lườn. Cái máy th́ lấy từ chiếc John Deer rỉ sét, bị bỏ phế từ khi miền Nam bị cộng sản chiếm đoạt; và chúng tôi th́ trên sông c̣n chưa từng biết cầm lái tàu mà bày tính chuyện vượt đại dương. Ba về than với mẹ, chúng tôi có thoát được là phải trông nhờ vào ơn phước. Cha mẹ thương con nên lo lắng, thực ra ai cũng biết đồng bào ḿnh v́ Tự Do đă sẵn sàng vượt biển, bất chấp sóng to hay thuyền bè mong manh. Có được bất cứ phương tiện nào để trốn đi, đă là ơn phước to lớn lắm rồi. Hôm nay, tôi trốn đi đơn độc, phận ḿnh phải chết th́ không có ǵ phải lo âu vướng bận. Nhưng Vũ th́ c̣n nhiều gánh nặng lắm, nh́n thằng bạn cứ mồi thuốc hút liên tục tôi biết nó rất bồn chồn lo lắng cho gia đ́nh, nhất là vợ trẻ bồng bế con thơ. Tôi nghỉ là nên khuyên nó đi sớm lên chợ cho khuây khoả, hơn là ngồi đây chờ anh Ba đem tin xuống. Hơn nửa, tin tức và bàn tính công việc trên chợ vẫn dễ hơn là ở đây, ghe tàu đậu vách kề vách. Tôi bàn với Vũ:
- Ê, chuyến xe đầu cũng sắp tới bến rồi. Tao coi tàu, mày thả lên bến đón anh Ba với mấy cháu… đi ăn sáng cho vui.
- Ừ, …tao đi chợ với anh Ba luôn thể. Mày giúp tao kiếm thằng Hải, nhắc nó đi kêu ghe "đổi nước", tao có dặn nó hôm qua.

Chiếc xuồng chở cái thùng phuy, chứa gần hai trăm lít nước, nặng khẳm, nằm lấp lé mặt sông. Tôi ái ngại nhỉn người đàn ông trọng tuổi, dáng nhỏ gầy vừa giữ thăng bằng cho chiếc xuồng, vừa múc chuyền từng thùng nước lên cho tôi. Đến tuổi làm ngoại nội, ông c̣n vất vả lo t́m từng hạt gạo. Nước cho chuyến đi đă được chúng tôi kín đáo dự trử trong các thùng nhựa, do công ty ứng cấp cho các tàu vận chuyễn để chứa hàng đông lạnh. Trưa nay, chỉ cần châm thêm một lần nữa để bù lại khoảng nước đă dùng, nếu tiết kiệm th́ hai tuần vẫn c̣n nước uống.
Bác Sáu kéo khăn lau mồ hôi lấm tấm trên mặt, thăm chuyện:
- Bửa nay chạy hướng nào đây cậu?
Tôi trả tiền công và dặn ḍ thêm:
- Máy hư, hai ngày rồi bác Sáu ơi, chưa biết chừng nào mới chạy được… Bửa nay c̣n sửa máy chắc cần xài nhiều nước. Trưa trưa, chừng 11 giờ bác Sáu trở lại, cho tụi cháu "đổi" thêm nước nghen bác.

Đây là ghe "đổi nước" mà Hải đă giúp gọi đem nước đến.
Mới nghe qua tiếng rao mời "đổi nước" trên sông, hầu như ai cũng ngạc nhiên, suy nghỉ. Hiểu ra, tôi thêm thán phục tinh thần quư trọng Tổ Quốc của dân tộc ḿnh. Đó là những người dùng chiếc xuồng nhỏ, chở cái thùng "phuy" chứa nước, để cung cấp nước ngọt cho ghe tàu ở vùng nước mặn. Họ làm cái nghề ít vốn này, lấy công sức chở nước để "đổi" lấy tiền mà sinh sống và gọi là "đổi nước". Người Việt Nam, từ người b́nh dân ít học cũng đă biết ư nghĩa vô cùng nhục nhă của từ ngữ "bán nước".
Đồng bào ḿnh không ai chịu rao gọi "bán nước" !

Trong khi quân đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà anh dũng hy sinh, quyết chiến đấu với cộng sản và quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, th́ từ ngày 14 tháng 9 năm 1958 tên cộng sản Phạm văn Đồng đă kư công hàm dâng đảo, bán nước Việt Nam cho quan thầy Trung Cộng của chúng nó. Bè lũ hồ cáo súc sinh cộng sản đă nhẫn tâm bán nước Việt Nam để được vinh thân và vênh váo trơ tráo xưng tụng nhau là đảng viên của đảng cộng sản.
Tội bán nước nhơ nhuốc của đảng cộng sản Việt Nam muôn đời không bao giờ rửa sạch được. Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ tha thứ cho bè lũ phản quốc "bán nước" đang xưng danh là cộng sản Việt Nam.
Tổ Quốc Việt Nam với ngàn năm hồn thiêng sông núi, với ngần ấy tội ác của cộng sản, với oán hận chất ngất cùng khắp ba miền đất nước; tôi tin chắc rằng:
Sẽ có một ngày,
Đêm đen chợt bừng sáng.
Người gọi người:
Thức tỉnh cơn mê!
Phá gông cùm!
Xé cờ đỏ!
Bỏ đảng, cứu dân oan!
Hết cộng phỉ, đêm tàn ngày rạng!
Ánh cờ vàng rực sáng nước Việt Nam.

Đang đứng trong ḷng tàu múc nước châm vào cái thùng nhỏ để đem lên mui uống, thấy tàu chợt nghiêng chóng vánh, và có tiếng chân bước lên mũi tàu, tôi ngó lên:
- Mới tới hả anh Ba? Anh có gặp Vũ ?
- Có chớ, mấy cha con ăn sáng với nó trên quán chú Hón nảy giờ đây… Hai đứa khoanh tay thưa "củ" Vinh đi con … Nó gặp bè bạn kéo lại, c̣n ngồi nói dóc ngoài chợ đó "củ"
Anh làm rể gia đ́nh người Tiều, có khi xưng là "hia" và gọi "củ" thay v́ cậu, hoặc cậu em. Thấy anh vui vẻ tôi an tâm ngay về việc di chuyển của nhóm đầu, hầu hết là thanh niên trai trẻ. Để tay mắt trong xóm và phường khóm không nghi, anh Ba dẫn hai con đi trước. Chị Ba chờ trưa trưa một chút, sẽ lẻn đi lấy xe đ̣ xuống tàu sau.
- Mới "đổi nước", sàn tàu ướt trơn lắm… Hiền, Hiếu lại đây cậu bồng thả vào trong cho đừng trợt té nghen.
Tôi nói và đưa tay đón con anh Ba, bồng thả vào phía trong ḷng tàu. Trẻ con lớn thật nhanh, Hiếu là đứa em, chắc cũng sắp đi học. Hai anh em rất ngoan hiền, càng lớn trông càng giống anh Ba, nhất là ba cha con mới đi hớt tóc một lượt, một kiểu. Anh rể của Vũ có vóc dáng như nhân vật tên Vọi của Khái Hưng và trông rất chất phát, nhưng nghề may đồ "tây" trong xă của anh Ba th́ nhàn hơn chàng Vọi trong truyện Trống Mái. Anh c̣n có tài nấu ăn, làm đồ nhậu cũng rất nghề.
Anh Ba chuyền mấy bịch đồ mua để nấu ăn xuống cho tôi:
- "Củ" để đâu đó trong mui dùm anh, rồi lên chợ… Vũ nó chờ ở trển…
Tôi hiểu ư anh Ba, Vũ không tâm trí đâu mà "ngồi nói dóc". Trên ấy, chợ sáng ồn ào, dễ bàn tính công việc hơn ở dưới bến, ghe tàu đậu san sát nhau.

Vũ kéo cái ghế ở bàn bên cạnh sang, cho tôi xen vào ngồi ăn và bàn tính cách bốc rước người hôm nay. Tôi mừng tin bà con đến đầy đũ, nhưng rất thất vọng về phần trang bị vũ khí bị thất bại. Người quen biết với gia đ́nh Vũ, đi nghĩa vụ, chuyên móc nối mua bán súng đạn cho tàu vượt biên đă bị bắt. Nh́n qua khách trong quán, tôi thấy em của Vũ là Tài, Dân, Duy ngồi với một nhóm người trong góc quán. Hai cái bàn gần cửa cũng có vài thanh niên trang lứa với Tài, tôi nhớ là con cháu của người bác. Phải công nhận, anh Ba và Vũ khéo dặn ḍ, nếu tôi không biết mặt th́ cứ tưởng họ là dân mua bán, người địa phương.
Bàn tính xong, mấy đứa em mặc áo công nhân viên làm như thợ máy cùng bè bạn theo chúng tôi xuống ghe để giúp sửa máy tàu rồi gầy độ nhậu.
Ghe tàu kéo rũ bè bạn xuống ăn nhậu là việc rất b́nh thường, nhất là khi bị hư máy nằm bến như tàu chúng tôi. Những người lạ mặt, sau khi được dẫn xuống tàu, ngồi ăn uống trên mui một lúc, sẽ rút êm xuống bên dưới ẩn thân. Anh Ba ngồi trên mui, vừa làm "chủ xị" đám nhậu, vừa sắp xếp người lên bến và xuống trốn dưới khoang, vừa canh chừng t́nh h́nh xung quanh. Chốc chốc, có người thay nhau lên bến đi mua thêm rượu hoặc đồ nhậu, khi xuống sẽ dẫn thêm vài người khác theo. Đi lên ít người, xuống nhiều người hơn, cứ thế mà thay và ḷn người xuống tàu. Đám nhậu ồn ào, người lên ngườ́ xuống, làm rối mắt người chung quanh, và nếu không chú tâm theo dỏi kỹ, quanh đi ngó lại th́ thấy chỉ có lố nhố sáu bảy người ăn nhậu trên mui, không có ǵ là khác thường cả. Phần Vũ và tôi ráp lại các bộ phận lặt vặt đă tháo ra để nguỵ tạo máy bị hư từ hôm qua và dọn dẹp hầm máy. Biết máy vẫn chạy tốt, mọi thứ cần thiết cho vận chuyển cũng đă lo xong, chúng tôi chỉ kéo dài cái cảnh vừa sửa máy vừa ăn nhậu, để xuống người.

Vũ rủ tôi lau tay, leo lên mui với anh em. Nó đưa ly rượu cho anh Ba và chỉ chiếc xuồng đang cặp vào bến, nháy mắt với ông anh rể:
- Vô với tui một cái đi "hia", rồi làm vài câu cho bà con nghe.
- Khà!... Ḥ ơ... !... à!
Vị rượu đế gắt quá, anh Ba tằn hắng, lấy lại giọng, mắt nh́n cô nàng bán xôi mà thằng em vợ mới chỉ điểm:
"Ḥ ơ… ơ… ơ…ơi!
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm, mưa nắng dăi dầu.
Chiếu này tôi chẳng bán đâu. T́m cô không gặp...
Ḥ ơ... t́m cô không gặp…. tôi gối đầu mỗi đêm..."

Bản ruột của anh Ba, anh chịu hát bài T́nh Anh Bán Chiếu này lắm. Anh cất giọng th́ mấy cái miệng rượu vào lời ra ồn ào trên mui đều yên lặng hết. Dỉ nhiên là anh hát không thể nào bằng các bậc thầy như Út Trà Ôn được. Tôi không biết phê b́nh người hát vọng cổ hay dở chỗ nào, nhưng chắc chắn một điều là anh Ba hát ḥ rất có duyên. Anh Ba ḥ ơ đến đây th́ cô nàng bán xôi không c̣n giữ e dè được nửa, nghiêng vành nón, ṭ ṃ liếc mắt ngó t́m người ḥ và gặp ngay anh Ba đang nh́n cô tủm tỉm cười. Anh Ba nhịp nhàng tiếp ngay vào đoạn vọng cổ:
" Ghe chiếu Cà Mau đă cắm sào trên bờ kinh Ngă Bảy,
sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra . . . . chào!"
Chữ "chào" anh xuống câu thật ngọt ngào. Làn hơi âm a ngân nga chưa hết, bốn ánh mắt lại gặp nhau. Tôi nghỉ, nếu không có cái đám nghí ngố ăn uống này th́ thật là một đoạn phim t́nh, rất là t́nh.

Anh Ba cũng biết, gần hai năm nay, vóc dáng và những bài vọng cổ mộc mạc của anh đă giúp khoả lấp những nghi ngờ có mưu đồ vượt trốn của chiếc tàu này rất nhiều. Anh sắm tuồng và nhập vai thật sống động. Chúng tôi rất may mắn có anh theo giúp lâu nay và mang ơn anh Ba rất nhiều.

Ngồi lai rai một lúc, thấy gần tới giờ hẹn rước người ngoài chợ, chúng tôi tuột xuống hầm, lo cho máy chạy. Nhóm người ẩn bên dưới thấy chúng tôi xuống, nh́n dọ hỏi. Vũ nói với tôi, cùng nhắn gởi cho bà con dưới tàu bớt lo âu:
- Tụi ḿnh cho tàu chạy một ṿng ra chợ.
Vũ làm cho cái John Deer ngoan ngoản của chúng tôi phải khởi động nhiều lần rồi mới nổ máy chạy đều. Biết thằng bạn cố t́nh khoá ống dẫn dầu vào máy một lúc, để làm như máy sửa chưa được tốt lắm, tôi yên tâm đi ra phía trước để tháo dây mũi.
- Máy sửa được rồi hà anh Vinh?
- Hồi nảy đề sao thấy c̣n hục hặc quá. Tính chạy thử một ṿng, rồi quay về sửa tiếp.
Tôi trả lời thằng Biên, đang đứng trên bờ thăm hỏi.

Biên là nhân viên giữ chiếc tàu của công ty. Chiếc tàu này đă neo cột ở bến không biết từ lúc nào, khi chúng tôi gia nhập đoàn tàu vận chuyễn th́ đă thấy nó nằm sát bờ. Chưa bao giờ nghe thấy tàu rời bến đi đâu cả và cái tên Biên này cũng chẳng thấy làm ǵ khác hơn là ngày qua ngày tà tà "giữ tàu cho công ty", như nó bảo với mọi người. Ai cũng nghi là thằng Biên nó "nằm vùng" để nghe ngóng t́nh h́nh dưới bến, nên thường tránh đậu gần. Chúng tôi nghỉ, càng tránh né nó càng nghi, chi bắng cứ liều đậu sát bên, cho thằng Biên yên tâm và dần dà sinh lơ đểnh, gần quá biết đâu làm cho nó khó thấy rơ hơn. Cho nên, lúc nào về bến, có chỗ trống là chúng tôi đậu cặp vào chiếc tàu của công ty rồi kết thân với thằng Biên.
Lâu ngày, biết được rồi, th́ Biên không c̣n đáng ngại lắm. Ngày và giờ làm việc, hể bày ra uống rượu ồn ào th́ Biên thường không dám sáp vào, chắc nó sợ bị "kiểm điểm". Hơn nửa, Biên lại có thói quen, sáng nào cũng lên quán ăn sáng, la cà ngoài chợ, mua thức ăn, đến khoảng mười một giờ mới trở vể tới tàu.

Biên thăm ḍ:
- Mấy anh thợ máy này coi bộ cũng biết sửa quá chứ.
- Ừ, tụi nó làm cho công ty nhà nước mà,.. d́a thăm nhà nghe anh Ba nói, đi theo xuống sửa giùm… Máy hư nằm húp cháo, sáng giờ chỉ cho uống rượu trừ công.
Tôi cười và lấy gói thuốc hút, đưa mời thằng Biên cùng đám bạn ghe tàu đứng gần, để cắt câu chuyện thăm hỏi về tàu, rồi đi tháo dây mũi:
- Chạy được rồi anh Ba ơi!
Vũ và anh Ba cũng nghe thấy Biên la cà thăm hỏi tôi nảy giờ, hiểu ư tôi, cho tàu rời bến ngay.

Mới đến trưa, chợ vẫn c̣n đông. Lợi dụng cảnh lên xuống mua bán lu bu ở bến tàu ngoài chợ, chúng tôi bốc thêm một số thân quyến. Đây là nhóm người lớn tuổi, có gia đ́nh dẫn theo trẻ con; họ giả bạn hàng hoặc dân đi chợ đến thăm hỏi và xin quá giang tàu.
Lúc nảy, tàu rời bến công ty,th́ đám thanh niên ăn nhậu trên mui đă rút hết xuống dưới khoang. Bây giờ có người xuống tàu, để hợp lư, năm bảy người trông giống dân địa phương ngồi lại trên mui với thúng rổ đựng hàng hoá rau cải, c̣n lại xuống lánh mặt dưới khoang. Tuy chợ đông người xô bồ, nhưng công an và tay mắt cũng rất đông, nấn ná lâu rất dễ bị lộ, tôi hỏi thăm Vũ:
- Anh Ba? chị Ba?
Vũ lo âu nói nhỏ:
- Ảnh lên chợ mấy lượt mà vẫn chưa t́m được chỉ… nảy giờ ảnh mất biệt ở trển.
- Hay là, mày dọt lên ngó tiếp ảnh?
- Ừ, tao đi. Nán thêm vài phút, không thấy chỉ th́ tao kéo ảnh xuống… lâu quá bể mẹ nó hết.
Vũ nói rồi lấy cái giỏ xách, đi lên chợ, như đi mua thức ăn.
Trên tàu bây giờ đă hơn hai chục người, tôi chỉ biết mấy đứa em của Vũ và con của bác mà thôi. Tôi nghỉ, không lấy được vũ khí, nhưng c̣n mấy đứa em ngang tàng chịu chơi này cũng an ủi cho tàu nhiều lắm. Nhờ cái mui lá để che nước đá và hải sản đông lạnh mà công ty bắt phải làm khi kư hợp đồng, hôm nay dễ dấu người trong tàu.

Nh́n anh Ba đi cùng Vũ trở xuống tàu với dáng mệt mỏi, tôi biết ḿnh không nên hỏi thêm điều chi về chị Ba, mà t́m cách cho anh được nghỉ ngơi:
- Chắc tôi coi lái, để xem hai cháu có cần ăn uống ǵ thêm, nghen anh Ba?
- Ừ, … "củ" lái giùm anh!
Anh Ba thẫn thờ bảo tôi, rồi vào trong mui. Bên dưới có tiếng Hiếu và Hiền theo anh Ba hỏi nhắc mẹ. Ở một nơi nào đó, chắc chị Ba cũng rất lo sợ khi bị lạc, gia đ́nh bị phân ly, không biết khi nào hay làm sao để t́m gặp chồng con. Từ tháng Tư năm 75, tang thương đă theo chân loài cộng sản tràn ngập xuống miền Nam, biết bao gia đ́nh bất chợt phải vương vào cảnh từ biệt đớn đau.

Rời chợ, trong ṿng chạy thử máy, tàu ghé các nhà quen rước thêm người. Chúng tôi hy vọng chị Ba lạc sang các nơi này, nhưng rồi không ai thấy biết ǵ thêm về chị. Vũ đứng lặng thinh ngó t́m theo những chiếc xuồng bơi chèo hai bên bờ, mong sao thấy được chị của nó
Tôi hạ bớt tốc độ máy, nói với Vũ:
- Sắp vào bến công ty, chắc ḿnh phải nhắc bà con bên dưói kín đáo và ráng giữ mấy em nhỏ yên lặng.
Thật may, đúng như chúng tôi dự định, thờ́ điểm này có nhiều ghe tàu chở hàng về bến. Bến tàu đang đầy ghe tàu, và công nhân lên hàng chộn rộn. Tôi cho tàu chạy thật chậm, làm như muốn t́m chỗ vào bến đậu. Thấy tàu về, Biên bước ra đón và thăm hỏi:
- Chạy ngon chưa anh Vinh?
Tôi nói vọng sang trả lời, cũng để các ghe tàu khác cùng nghe:
- Chưa! Lúc được lúc không...Mới nằm ngoài chợ đây…Tính ghé vô nghỉ mệt mà hỏng có chỗ. Thôi, tụi tui chạy luôn qua xưởng ông Năm đậu, sửa tiếp cho dễ, với lại nhờ ổng coi lại con "heo dầu"… Sửa xong, d́a lại bến, tối nay phải nhậu bù mới được. Ê, c̣n nồi canh chua anh Ba nấu hồi trưa, ngon hết xẩy, tối nay qua lai rai nghen!
- Ừa, ông Năm ổng "canh heo dầu" nghề lắm… Tối, tui qua chơi!
- Ừ, tối nay ḿnh nhậu!
Tôi vẩy tay cười và đẩy cần lái hướng mũi ra ngoài sông, cho tàu chạy tiếp. Vậy là Biên và đám ghe tàu trong đoàn đă thấy chúng tôi c̣n quay về, và nghe là chúng tôi qua xưởng máy để sửa tiếp. Họ sẽ không thắc mắc lắm, nếu không thấy chiếc 3392 này về bến đêm nay.
Rời bến công ty, chạy sang xưởng sửa máy tàu của ông Năm, chúng tôi mướn cắt hàn ống khói tàu, để ráp bộ hảm thanh khác. B́nh thường, phải để tiếng máy nổ b́nh thường cho giống như các tàu khác. Tối nay, chúng tôi rất cần tránh để tiếng máy vang xa lên bờ, cho dễ len lỏi ra cửa biển. Bộ giăm thanh này, đă đặt làm riêng, cất dưới tàu chờ dịp dùng cho lúc chạy trốn như hôm nay. Có đo tính trước, nên cắt ráp nhanh gọn, chốc lát th́ xong. Chúng tôi kéo dài thời gian, để nương nhờ bến tàu của ông Năm mà rước thêm người.
Vũ rất mừng, vợ con của nó và gia đ́nh người anh thứ Hai cũng đă đến điểm và xuống được tàu. Bây giờ, anh Ba trở nên lo sợ và bối rối khi không thấy chị đi theo gia đ́nh Vũ. Anh Ba không thể bỏ đi, khi không biết chị đang ra sao, trở về nhà an toàn hay đă bị bắt, ai sẽ thăm nuôi và lo lót cho chị được thả về. Anh về t́m vợ th́ Hiền và Hiếu thành hai trẻ không mẹ cha chăm sóc. Mang hai con về theo, th́ tương lai con trẻ lại chui trở vào mù mịt trong xă hội ngục tù cộng sản. Đến lúc này th́ không c̣n thời gian chờ t́m chị Ba, tàu phải tiếp tục cuộc hành tŕnh để rời cửa biển trước khi trăng lên. Đây c̣n là trạm cuối, để đi bộ lên chợ. Giờ này, xe về thành phố không c̣n bao chuyến sót lại. Mỗi phút qua, lại thêm bồn chồn lo lắng. Ở ngoài mũi cuộn dây, cất neo vào hầm mũi cho gọn và an toàn để chuẩn bị chạy trên sóng to ngoài biển, tôi biết bên dưới tàu buồn lo ngột ngạt lắm. Gia đ́nh Vũ phải t́m cách và quyết định. Anh Ba vỗ về Hiền và Hiếu rồi gởi hai con cho anh chị Hai cùng vợ chồng Vũ. Nh́n anh ôm lau nước mắt cho hai đứa con, tim gan nào cũng thấy đau xót.
- Anh phải về kiếm chị.
Anh Ba dừng lại nói nhỏ với tôi vài lời, rồi vội vă rời tàu đi lên bến t́m chị, t́m xe về thành phố. Dù biết anh không thể cùng chúng tôi trốn đi, khi chị đă bị lạc và không tin tức, tôi vẫn lặng người khi nghe anh từ biệt. Chung sống với nhau trên tàu, chúng tôi như ba anh em ruột, bây giờ tôi đứng đây, chỉ c̣n biết nh́n anh đơn độc rời tàu.

Xưởng của ông Năm cách công ty một đoạn sông khá xa. Đứng đây, nh́n ngược về bến cảng quen thuộc, nó đă khuất sau khúc sông uốn quanh. Đếm luôn Vũ và tôi, th́ con tàu mười lăm tấn này đang mang theo bảy mươi ba người. Ngần ấy sinh mạng đang nằm trọn trong con tàu cùng định mệnh. Hành tŕnh vượt sóng t́m tự do chưa đi được bao xa, khắc nghiệt đă đến với gia đ́nh anh chị Ba, thương tội cho anh chị và hai đứa trẻ vô cùng.
Nước đă đổi chiều, giữ con tàu chậm chậm nương theo gịng nước đang chảy đổ ra cửa biển. Quay nh́n lại gịng sông đục màu phù sa phía sau, tôi thấy xót đau trong ḷng, chúng tôi đang xa rời quê mẹ Việt Nam cùng những người thân thương yêu dấu.
Một lần đi có phải chăng sẽ là ngh́n trùng cách biệt!

5.

VƯỢT THOÁT



Không c̣n ánh mặt trời, buổi chiều đến thật nhanh với mây mù âm u và cơn mưa ŕ rào. Chiều mưa làm ḷng người ra khơi trùng xuống. Ngồi giữ cần lái trên mui, luyến tiếc làm tôi cứ chút chốc quay nh́n lại phía sau măi. Sông nước của quê hương tôi đang nối nhau chạy lùi vào trong bóng tối. Tôi đang xa rời từng khúc sông bờ đất thân yêu. Xa xa, ánh đèn vàng héo hắt trong những căn nhà ven bờ chiều nay sao trông buồn thật buồn. Cũng ḍng sông này, đă bao nhiêu chiều, tàu xuôi gịng ra biển, chở hàng giao cho các trạm thu mua của công ty. Chiều nay, con tàu thân yêu đang xuôi gịng một lần sau cùng, vượt sóng đưa chúng tôi đi t́m Tự Do. Một lần đi, không quay tàu trở lại. Ra đi, chấp nhận mất mát, hy sinh tính mạng.

Vũ đứng trên hầm máy, đưa lên tôi điếu thuốc đă mồi sẵn:
- Không biết ảnh có kiếm được chị Ba… có c̣n xe đ̣ để về không đây?…c̣n cái bà chị tao đi đâu mà để bị lạc mất, thiệt tao không hiểu nửa!
Mưa nhoà trong bóng đêm. Đêm đă phủ trùm gịng sông tự bao giờ. Anh Ba phải trở về, bỏ lại hai đứa con thiếu mẹ cha. T́nh cảnh ba cha con của anh Ba bịn rịn chia tay hồi chiều, ray rứt trong ḷng, tôi hỏi thăm Vũ:
- Bây giờ, ai trông coi Hiền và Hiếu ?
Vũ nh́n dưới khoan tàu:
- Đang ngồi với bốn đứa con của anh chị Hai.
Đêm tối lại thêm mù mờ v́ mưa. Thỉnh thoảng giữa sông có vài đốm sáng lao chao trong cái đèn treo trên cột đáy, làm dấu cho tàu thuyền tránh. Đáng ngại nhất là những cột đáy đă bị gảy ngầm, nằm khuất trong ḷng sông, khi nước ṛng chúng sẽ nhô lên lấp xấp hay là đà dưới mặt nước. Tàu thuyền chạy ban đêm phải mở đèn rọi từng chặn để t́m và tránh chạy trúng các cột đáy này. Đêm nay càng ít người thấy tàu ḿnh càng có lợi, cần tránh dùng đèn rọi và ráng lái theo trí nhớ. Nhưng có mưa như đêm nay lại là một điều rất may mắn khi cần trốn lánh. Mưa gió th́ ít người muốn ra ngoài, ít người lưu tâm đến tàu của chúng tôi. Xuôi nước, máy không cần chạy tốc độ cao, tiếng máy chậm đều qua bộ giăm thanh mới thay hồi chiều nghe thật yên ấm, giúp chúng tôi thấy an tâm hơn.
Mỗi cửa biển trong vùng có điểm dị biệt về bải cạn, vị trí canh pḥng, nhà dân,…và mỗi nơi có cái dễ cũng như cái khó để thoát riêng. Lối ra biển hôm nay, có cái lợi là thưa vắng nhà dân chúng nhưng lại là cửa biển duy nhất có cả trạm gát công an và căn cứ hải quân. Ghe tàu rất e ngại, không muốn trốn qua cửa biển này.
Sau gần hai năm tŕnh sổ vận chuyển để chạy ra cửa biển, h́nh dạng chiếc 3392 của chúng tôi trở nên rất quen thuộc với trạm công an và hải quân. Công an đă tin quen và ỷ lại vào thế bố trí có lực lượng hải quân đóng chặn ngoài cửa biển. Dần dà, tụi công an trở nên chủ quan, chỉ xem qua loa giấy phép, không lưu tâm đi xuống tàu để xét kiểm bên trong tàu như lúc chúng tôi mới vào gia nhập đoàn vận chuyển. Trạm công an hải pḥng này có thêm một đặc điểm là nằm xa trên bờ, không thấy t́nh h́nh lưu thông trên sông. Tàu thuyền phải tự động ghé vào và đi bộ lên tŕnh giấy phép ra biển. Chiếc nào không ghé vào tŕnh, th́ bị căn cứ hải quân đóng bên kia bờ đón bắn.

Nếu không gặp bất trắc, chúng tôi sẽ đến cửa biển vào thời điểm ăn chiều như dự trù. Khoảng thời gian này có lợi hơn v́ trăng chưa lên và là lúc mọi người bận rộn cơm nước, ăn nhậu. Chạy chậm, thời gian kéo dài ra. Tôi vừa muốn chóng qua trạm cho xong, chuyện ǵ đến cứ đến; lại vừa lo âu muốn kéo dài thêm sự sống cho biết bao nhân mạng vô tội trên tàu. Nhưng, có nôn nóng cũng không dám chạy lẹ lắm, tàu chỉ giữ tốc độ hơi nhanh hơn thường lệ một chút ít để đừng bị lưu ư.
Bà con cả ngày nay vất vưởng, chưa quen đường xe sông nước, mệt mỏi thêm lo âu, trong ḷng tàu nghe rất yên lặng. Vũ và tôi lắm chuyện trong đầu tự nảy giờ cũng chẳng đứa nào nói với nhau tiếng nào. Thế rồi, dù có chạy chậm, khoảng cách cũng thu ngắn lại dần và trạm biên pḥng chỉ c̣n cách chừng mười lăm phút. Ṿng qua khúc quanh, là thấy ngay ánh đèn của căn cứ hải quân xa phía trước. Khi chở hàng về, thấy vùng ánh sáng này, thấy nhẹ người v́ sắp vào trong sông, bớt sóng gió, sắp hết chuyến, sắp được nghỉ ngơi. Tối nay, ánh đèn soi rọi và đầy đe doạ. Trước khi qua căn cứ này, phía bên phải là trạm công an biên pḥng, đây là chặn đầu của tất cả thử thách hiểm nguy.
Phút chốc, đă thấy cầu tàu và lá cờ đỏ của trạm công an. Tôi vói tới trước, vổ vai gọi thằng bạn đang đứng ló người qua khung cửa trên nóc mui, Vũ quay lại nh́n và siết chặt bàn tay tôi đang đưa ra cho nó. Chúng tôi đă đồng ḷng với nhau, tàu c̣n chạy được sẽ cố chạy, thề không dừng lại đầu hàng tụi cộng sản.
Đêm nay, không may bị chúng nó bắn trúng, phần ḿnh phải chết v́ vượt thoát t́m Tự Do, tôi không hề hối tiếc, nhưng c̣n trách nhiệm và tiếc thương cho hơn bảy chục sinh mạng trên tàu. Kế hoạch tính toán nhưng điều may rủi vẫn khó lường được hết, ḷng thầm cầu nguyện an b́nh cho chuyến vượt thoát đêm nay.
Tôi đứng thằng dậy, tay giữ cần lái, cương quyết, sẵn sàng chấp nhận.
Giảm tốc độ cho tàu chạy chậm lại như khi sắp ghé trạm, Vũ và tôi định lượng t́nh h́nh lần chót và quyết định chạy tiếp. Trời vẫn c̣n mưa, bến vắng lặng và rất may không tàu thuyền nào ra vào cửa biển trùng vào lúc này, chúng tôi không cần tránh né. Bến tàu có chiếc tàu to dềnh dàng của công an, đang cột mũi quay lên trạm. Đây là chiếc tàu đánh cá vượt biên, không may bị bọn công an bắt được. Chúng tịch thu, sơn lại thành màu xám tro, dùng làm tàu đi tuần bắt ghe tàu vượt biên. Không thấy ánh đèn và cũng không bóng người trên tàu, cả đám công an của tàu chắc đang ăn uống bên trên trạm. Mưa sẽ làm con đường đất dẫn xuống bến trở nên trơn trợt. Như thế, chúng nó sẽ bị chậm chạp hơn khi muốn chạy xuống bến, quay mũi tàu ra và chạy máy để rượt theo chúng tôi.
Tuy tàu không lớn lắm, cặp bến nước xuôi, thân tàu với trọng tải mười lăm tấn sẽ hứng trọn gịng nước đổ, cũng rất dễ va vào cầu. Thận trọng lượng tốc độ nước và cho tàu tiến dần đến trạm công an. Khi trạm nằm vào hướng hai giờ, tôi quay mũi qua phải, chạy về phía cầu tàu, trông như sắp cặp bến để lên tŕnh sổ vận chuyển hàng. Tàu chạy chậm chậm vào. Gần đến bờ, tôi kéo ngược cần lái sang phải cho tàu lượn ṿng, mũi trở ra sông rồi quẹo phải ra cửa biển. Ở xa, nh́n qua, trông giống như tàu chúng tôi vừa vào và công an trạm đă cho tàu được chạy tiếp ra biển..
Âm mưu th́ vậy, nhưng biết có thành hay không!
Tôi lo lắm và biết mọi người trong tàu cũng đểu lo lắng, chờ đợi. Thời gian bất chợt chựng đứng lại, làm ngưng nghẹn nhịp thở. Mỗi phút giây qua, bầu khí quyển như càng bị ép nén ngột ngạt hơn. Chạy lẹ quá th́ bị bại lộ. Khoảng sông ngắn ra cửa biển hôm nay bổng thấy xa thâm thẫm.
Vừa qua khỏi căn cứ hải quân, cho tàu tăng dần tốc độ, tôi nh́n lại xem động tịnh trên bến trạm công an và canh chừng phản ứng bên căn cứ hải quân. Nh́n xem như thế, chớ chẳng làm được chi hơn. Cả đám công an và hải quân mà vây bắn lúc này th́ tài công đứng trên mui ăn đạn trước là cái chắc và bà con trên tàu nào phước đức th́ c̣n sống sót. Rồi xác nạn nhân vượt biên sẽ trôi dạt qua lại cùng với đám lục b́nh, như chúng tôi đă từng thấy. Đến thời điểm này, chỉ c̣n tuỳ thuộc vào phản ứng của đám hải quân canh gát tối nay. Nếu công an không gọi máy sang để báo động, th́ chắc chắn hải quân vẫn c̣n tin tưởng tàu vận chuyển của chúng tôi đang chở hàng đi giao. C̣n như hải quân nghi ngờ, từ thời gian điện báo qua lại phối kiểm với công an và tụi công an có đuổi theo, th́ chúng tôi sẽ chạy thoát ra biển được một khoảng khá xa. Chúng tôi mong sao thoát được, thà chết ngoài biển khơi.
Khi tàu vừa qua vùng đèn rọi sáng của hải quân, bại lộ hay không, đây là lúc chúng tôi cũng phải chạy lẹ hơn để thoát nhanh ra biển trước khi bị phát giác. Cho tàu rẻ sang trái, theo hướng thường đi giao hàng, tức là tàu chạy một góc chừng 30 độ với bờ biển, để lừa đám biên pḥng.
- Vũ, sang số!
Tôi báo cho Vũ biết và kéo tay ga cho tàu chạy nhanh lên để có trớn, sẵn sàng cho Vũ chuyển gài qua số nhanh. Nhịp nhàng, Vũ vói tay giữ phần kiểm soát tốc độ và gài số cho tàu tăng tốc độ. Tiếng máy gầm lên, cánh quạt đạp sóng cuộn ṿng phía sau.
Chạy được một lúc, bổng có tiếng súng nổ, loạt đạn từ phía sau bay tới ngang tai. Tôi đổ quạu chưởi thề và liều mạng:
- Tao chấp mày bắn!
Tiếng đạn bắn tới, gợi nhắc hận thù. Tôi nghe máu nóng sôi sục, hờn câm trào dâng. Chúng tôi phải sống để thế hệ kế tiếp biết được cái man rợ của loài cộng phỉ. Dưới tàu xôn xao, tiếng kêu la hốt hoảng vang lên trên mui tàu.
Vũ trấn an bà con trong tàu:
- Tắt hết đèn. Tụi nó chưa thấy tàu ḿnh, đạn đi trật hướng.
Đèn vừa tắt xong, tôi quay mũi thật nhanh sang phải 90 độ, vừa làm đám tàu đuổi theo bị lạc hướng vừa phóng thẳng ra biển khơi. Nh́n lại phía sau, qua màn mưa mù mờ, có hai vệt đèn pha đang quét ngang qua lại rọi t́m. Tôi mừng thầm:
- À! Vậy là lũ súc sinh chúng bây chưa thấy tao!

Một lúc sau, nghe sóng to cuồn cuộn nối nhau liên tục đập đ́ đùng vào mủi tàu, chúng tôi mừng cho tàu đă cách bờ biển khá xa. Tàu đổi hướng chếch xuống phía Nam và tiếp tục chạy hết đốc độ. Thân tàu chông chênh bườn chạy trên mặt biển, thật tội t́nh. Chắc Vũ cũng như tôi, lo cho cái máy đă phải chạy hết tốc lực từ nảy giờ.
Không c̣n nghe tiếng đạn bắn, tôi khom xuống nói với Vũ:
- Chắc lũ chúng nó không theo ḿnh đâu, ráng chạy thêm chút nửa.
Ăn cướp đồng bào vượt biên bao nhiêu năm nay, lũ công an và hải quân đă no béo lắm rồi. Không thấy tàu, đêm tối với trời mưa gió như thế này, chúng nó sinh ra lười biếng lùng kiếm tàu vượt biên.
Tôi nh́n lại phía sau, vùng ánh sáng của căn cứ hải quân bây giờ chỉ c̣n thấy lờ mờ trong đêm. Nơi đó cũng là dấu vết sau cùng của bờ biển Việt Nam. Trước mặt chúng tôi, trời và biển đang hoà lẫn nhau một màu đen, trải rộng mênh mông. Biển sâu, sóng tàu để lại vệt sáng xanh xanh phía sau thật đẹp. Hít hơi thở dài, gió đêm mát lạnh sảng khoái trong ḷng. Hương vị mặn nồng của biển đêm nay thật tuyệt vời.
Chúng tôi đă thoát loài quỉ đỏ cộng sản!
Hạ bớt tốc độ cho máy đừng bị quá nóng. Tôi ngó lên cao, cám ơn Ơn Trên đă giúp chúng tôi vừa vượt thoát.
Sau bao tháng ngày dài nhẫn nhục ẩn trốn trên tàu, bây giờ tôi đang cùng bảy mươi hai thuyền nhân lướt sóng trên hải phận quốc tế.
Đây, vùng trời tự do!
Và từ đây, tôi xa rời Tổ Quốc Việt Nam!

Mở cái địa bàn của bộ binh đeo trên ngực, định hướng cho tàu chạy đến Mă Lai. Cầm khối vuông kim loại quen thuộc ngày nào, ấm trong ḷng bàn tay, tôi thấy thật ấm ḷng. Tôi như đang được trở về bên cạnh các chiến hữu của tôi.
Trong đêm đen, giữa đại dương mênh mông, chiếc tàu 3392 thật nhỏ nhoi đơn độc. Vùng đất hứa hảy c̣n là uớc vọng, chưa biết bao giờ sẽ đến. Hảy c̣n lắm gian truân, hiểm nguy trước mặt.
- Xin hướng giúp cho chúng tôi!
Tôi cầu xin và thề với anh linh chiến hữu, cho đến hơi thở sau cùng, tôi sẽ không bao giờ quên và không bao giờ tha thứ tội ác của loài súc sinh cộng phỉ man rợ. Xin cho tôi c̣n có ngày được trở lại thăm chào quê hương Việt Nam kính yêu của tôi, một ngày rực rỡ ánh cờ vàng Tự Do!

6.

V̀ HAI CHỮ TỰ DO *

Đêm thật dài, nhưng rồi cũng qua đi. Chỉ có quê hương tôi từ khi tràn ngập loài quỉ đỏ cộng sản, đêm vẫn đen, và đêm đen giữa ban ngày.
Hướng Đông đă có ánh mặt trời. Ngày trở lại với tươi sáng và hy vọng. Hy vọng nơi phía Nam sẽ là vùng đất hứa, là bến bờ của hồi sinh và tự do. Mây trắng mỏng, thanh thản nhẹ nhẹ bay. Trời vẫn xanh tươi hiền hoà và Thái B́nh Dương hôm nay có vẻ vẫn yên b́nh. Thêm một ngày lênh đênh trên biển cả, quanh chúng tôi cũng chỉ có trời và biển. Đại dương mênh mông và mênh mông. Nh́n thấy nước cuộn đạp phía sau th́ cho là tàu đang chạy tới, nhưng tôi chẳng thấy nó chạy tới đâu cả. Bốn phương vẫn không thấy dạng bến bờ. Đứng trên mui tàu nh́n xuống, chiếc tàu 3392 sơn dầu hắc đen mốc này trông như cái mảnh ván vụn đang trôi nằm lững lờ trên biển cả. Vài đợt sóng mới có một lần sóng to. Vỏ tàu đóng với cái mũi bẩu để chở nhiều hàng và chỉ để chạy trên sông, không thích hợp với sóng to ở ngoài khơi, phải canh chừng để hướng tàu cởi lên sóng. Quanh quẹo qua lại theo sóng, rất dễ bị lạc hướng. Nhiên liệu và lương thực cho hơn bảy mươi người dù có dự trù nhưng vẫn có mức giới hạn. Sóng đùa đập lắc lư con tàu, tôi giữ địa bàn nằm thăng bằng để kiểm hướng chạy. Không có hải bàn, cái địa bàn của bộ binh nhỏ nhắn thân yêu này là niềm tin và hy vọng của chuyến vượt đại dương.

- Tính! Cà phê đây mày!
Vũ gọi và chuyền ly cà phê lên mui cho tôi.
Từ đêm thoát tụi cộng sản chạy ra đây, Vũ gọi lại bằng tên thật của tôi. Sau gần hai năm dài trốn quản chế, lấy tên của em trai, làm thằng Vinh ẩn náo, ngố ngáo phụ việc trên tàu. Mấy hôm nay được nghe gọi bằng tên thật, thật cảm động và có lúc vẫn c̣n nghe ngỡ ngàng tưởng như đang ngủ mơ.
Không, tôi không mơ!
Tôi đă được sống lại với tên Tính, được làm người tự do!
Tôi cúi xuống đở ly cà phê và cám ơn Vũ. Nh́n mắt thằng bạn lèm nhèm, hảy c̣n ngáy ngủ:
- Mới dậy hả mậy?
Vũ cười hề hề:
- Ừ, mệt quá. Tao kêu thằng Tài dậy, ngồi coi máy dùm, tao phê được một lát.
Nh́n nó bơ phờ, tôi biết cái mặt của ḿnh cũng y như thế. Không có anh Ba, mấy ngày nay tôi phải ṛng ră ôm cái cần lái trên mui. Hương vị cà phê thơm đắng, đánh thức trí óc tôi. Đêm trước ngày ra đi th́ nằm trăn trở không ngủ được, mấy đêm nay thèm được ngả lưng làm một giấc th́ phải chống mắt thức trắng đêm. Cà phê và cái khăn ướt thay phiên nhau giúp tôi mở mắt nh́n phương hướng. Ban ngày, thỉnh thoảng Vũ leo lên mui, thay thế tôi trong chốc lát, để tôi đi tiểu cho có vẻ lịch sự một chút, rồi phải trở xuống trông chừng bên dưới tàu. Vũ có khối trách nhiệm của nó, từ thức ăn nước uống cho bà con trên tàu, đến lo chạy bơm phụ khi nước đă vào tàu nhiều, theo dỏi nhiên liệu và nhiệt độ máy. Cái rắc rối nhất là nước giăi nhiệt cho máy, phải được làm nguội bằng luồng nước biển chạy qua liên tục, do hệ thống bơm ráp thêm bên ngoài. Lơ đểnh không hay biết nước biển không bơm lên được, để lâu là cháy máy tàu.

Mặt trời chưa lên cao, nắng đă nóng gay gắt, không khí oi nồng ngột ngạt. Lớp da thịt ướp dầy muối biển bức rức, nắng nung đốt thành màu sạm mốc. Tính theo tốc độ và nếu không bị sai lạc phương hướng, chúng tôi nghỉ, tàu đang gần Mă Lai. Tôi có mệt mỏi lắm, buồn ngủ vô cùng, nhưng lo âu nhiều hơn tất cả. Nh́n quanh quẩn và mong sao thấy được cái ǵ đó có dấu hiệu là bến bờ, nhưng qua lớp ánh sáng chói chang lung linh hơi nước, lúc nào cũng chỉ thấy trời và thấy biển xanh trùng trùng.
Trưa một chút, không khí càng lúc càng trở nên ngột ngạt, khó chịu. Có cái ǵ đó bất thường!
Tôi gọi Vũ dưới hầm máy lên, chỉ vùng mây xám xa phía trước:
- Tao nghi sẽ có mưa bảo quá, mày.
- Chắc là gặp bảo rồi! Để tao xuống chăm cho đầy dầu.
Vũ tụt lẹ xuống khoan:
- Tao lo thêm một máy bơm phụ và người biết chạy máy, để sẵn sáng tát nước.
Bên trên mui, tôi lo lắng đứng ngó quanh, trông chừng mặt biển, trông chừng các đợt sóng. Đám mây đàng trước kéo đến càng lúc càng nhanh hơn, không mấy chốc đă che kín mặt trời. Chưa qua buổi trưa mà trông như đă sắp tối. Cái tối và xám âm u thật kỳ dị, làm rờn rợn da người, lạnh dọc xương sống.
Trời tối sầm và chùng thấp xuống thật gần mặt biển. Trời và biển đă nối nhau một màu xám đen.
Mặt biển trở nên đen ng̣m.
Gió bắt đầu thổi mưa. Hạt mưa bắn vào lớp da cháy nắng nghe ran rát.
Vũ trở lại, đứng trên hầm máy, nh́n tôi lo âu:
- Bảo tới thiệt mày à!... Tao mới thấp nhang.
- Ừ…không biết lớn nhỏ đây!
Tôi trả lời Vũ mắt không rời mặt biển đen ng̣m cuộn đầy sóng:
- Mày ráng phụ tao điều khiển cần tốc độ.
Tôi mở địa bàn kiểm hướng thêm lần nửa rồi cất vào túi quần sau và gài nút lại.
Tàu đóng để chạy trên sông, không che kín khoang như loại tàu đ́ biển, nếu sóng ụp lên th́ ḷng tàu sẽ hứng trọn vẹn khối lượng nước biển này và chắc chắc ch́m ngay. Bảo đến, chỉ cần lo tránh sao cho sóng đừng làm ch́m tàu, phương hướng bây giờ không c̣n là điều cẩn thiết.
Không bao lâu sau, gió cuộn sóng dậy. Sóng lao đến dồn dập. Cuộn sóng to vừa đập vào tàu th́ những đợt sóng kế càng lúc càng to hơn. Sóng bổ vây trùng trùng. Hầu như không thể đoán định chiều hướng của sóng. Có nằm ngay trong cơn cuồng nộ, chứng kiến gió gào sóng đập khi trùng dương dậy sóng, th́ mới cái thấy uy lực của tạo hoá thật vô cùng mảnh liệt. Hai tay tôi ôm chặt lấy cần lái cố đưa tàu chạy nương theo sóng. Lúc cởi xéo lên sóng, mũi tàu cất phóng lên như đụng tới bầu trời mịt mù vần vũ, tàu chao nghiêng tưởng chừng sẽ lật úp hay lộn ngược ra sau. Nhưng kinh hoàng nhất là khi chạy đổ xuống, tàu như đang bị hút vào giữa ḷng biển, lao vùn vụt vào cửa địa ngục đen ng̣m xoáy sâu hun hút. Thân người tôi bị kéo chúi tới trước, nghiêng ngă, lúc bị giật ngược ra sau. Mái che hứng cơn gió mạnh, nó gục gặc hai cây cột chống, ráp cặp với băng ghế để ngồi lái trên mui, kêu răng rắc. Không biết nó chịu đựng được bao lâu sẽ bị bứt đinh ốc bay xuống biển. Tôi rùn trụ người xuống, các ngón chân cố đạp bấu lên lớp nhựa sần sùi tráng trên mui, áp gh́ cả hai cánh tay vô cần lái và kè chặt vào hong mà cứ cảm thấy nó sắp tuột khỏi tay tôi.
Vũ thật hay, như đang dùng chung với tôi một bộ óc, tôi không cần phải gọi nói chi cả, Vũ điều khiển tốc độ chính xác và đồng bộ với lúc tôi đổi hướng cần lái. Chiếc tàu quay sang trái rồi quặt sang phải, bườn theo sóng. Càng lúc, tôi thấy khi sóng nhồi hất lên hay giựt hút xuống, trời và biển đều biến thành địa ngục như nhau cả !
Tận thế chắc cũng như thế này là cùng!

Sau hơn hai tiếng đồng hồ trời vần vũ, lúc tôi thấy ḿnh đă kiệt lực, tay chân ră rời th́ sóng gió có vẻ thưa giăm dần.
Tôi mừng rỡ gọi Vũ:
- Bên phải chân trời có ánh sáng!
Vũ la vọng xuống dưới tàu, báo tin mừng:
- Ráng chút nửa đi bà con ơi. Sắp hết băo rồi!
Vừa chạy tránh sóng, vừa lái tàu hướng về phía có ánh sáng. Vũ và tôi hy vọng hướng này trời và biển chắc là yên b́nh hơn.
May mắn cho chúng tôi, cơn băo không quá to và cũng không kéo dài. Sau cơn giông băo, trời và biển thật đẹp, nhưng cơ thể mỏi nhừ nhắc tôi nhớ cơn băo mới vừa qua. Lấy lại hướng chạy cho tàu, nh́n biển xanh hiền hoà dễ thương, tôi t́m lại được an b́nh và chợt mĩm cười khi nhớ đến việc những cơn băo đều được cho mang tên phụ nữ. Người ta c̣n so sánh trước khi băo tới và trước khi phụ nữ nỗi giận th́ trời rất đẹp!

Khoảng bốn giờ, chiều về, ánh sáng dịu bớt nhiều, nhưng vẫn c̣n nóng gắt. Tôi giữ hướng đến Mă Lai và mắt vẫn ngó t́m quanh quẩn, hy vọng thấy dấu hiệu đất liền. Bất chợt, tôi thấy có ánh đèn chớp nhấp nháy gần chân trời. Không ống ḍm và sóng che, nên ánh chớp màu đỏ khi thấy được khi không và thấy c̣n xa lắm. Tôi mừng vô cùng, nhưng lại không dám tin vào mắt ḿnh. Ngại là mắt bị chói nắng biển nhiều ngày nên sinh quáng mắt, hay tôi bị buồn ngủ, ánh đèn này chỉ là ảo tưởng, tôi thấy trong mơ. Tôi gọi vọng xuống hầm máy:
- Vũ! Mày lên đây coi cái này… có đèn!
Nghe gọi, Vũ phóng ngay lên mui, nh́n quanh quẩn t́m kiếm.
Tôi quay mũi tàu chếch sang phải, chạy thẳng vào ánh đèn:
- Hướng 12 giờ. Mày nh́n xem, h́nh như có ánh đèn chớp.
Tôi nôn nóng nh́n thằng bạn cứ đưa mắt t́m kiếm:
- Mày đừng có nh́n cao quá, trên mặt biển một chút, ngang tầm với tàu ḿnh và nh́n lúc sóng đưa lên cao.
Thấy Vũ nh́n qua lại chẳng nói chi, tôi bắt đầu thất vọng, bỗng Vũ hét lên mừng rỡ:
- Có đèn! Tao thấy đèn…tới rồi bà con ơi!
- Khoan! Khoan la um sùm. Mày thấy cái đèn màu ǵ?
Nó choàng tay ôm vai tôi lắc và cười ha hả:
- Màu đỏ! Màu đỏ!... tới rồi, mày ơi!
Nghe Vũ trả lời, nh́n bạn vui mừng, tôi vui mừng không kém:
- Ừ, vậy là đúng như tao thấy rồi! Tao mong đó là Mă Lai!
Vũ khom xuống khoang, la lớn qua cái cửa thông lên mui:
- Thấy Mă Lai rồi bà con ơi!
Như sợ dưới tàu không nghe hết, Vũ tuột ngay xuống báo tin vui. Tôi nghe tiếng nó và người ta gọi nhau báo tin vang dậy bên dưới. Tiếng cuời đùa vang vang dưới tàu. Gần ngoài mũi, một nhóm thanh niên ṭ ṃ, e dè nhóng lên chỉ nhau xem ánh đèn. Tin vui mang lại sức sống cho những thân người nằm ră rượi, lo âu, mệt mỏi, say sóng. Cả tàu được hồi sinh, rộn ră tiếng nói, tiếng cười.
Vũ trở lên mui ngồi hút thuốc chuyện tṛ với tôi. Niềm vui, ước vọng, câu chuyện, tiếng cười nối chen nhau vui nhộn cả tàu.
Có người đứng chồm qua cửa trên mui, chị cười tươi đưa hai cái ca nhôm cho Vũ, đang ngồi gần đó:
- Gia đ́nh tui gởi cho cậu và chú lái tàu miếng nước chanh.
Vũ đở hai cái ca và chuyền cho tôi một cái:
- Cám ơn "chế" Hai nghen. Số dzách! Nước chanh đường của hai người đẹp làm.
Người phụ nữ mà Vũ gọi là chế, tức chị trong tiếng Tiều, nguưt thằng bạn tôi một cái dài:
- Hứ, cái cậu này vợ con đùm đề mà c̣n lộn xộn
Vũ cười, nó chỉ tôi:
- Tui nói là để giới thiệu cho cái "chú lái tàu" này đây biết mà chế Hai, tội nghiệp thằng bạn tui nó c̣n độc thân, chế à...
- Độc thân cái kiểu như cậu hồi đó c̣n quá cha ngướ ta có vợ có con. Biết cô nào là đào chính, cô nào đào phụ phải hong cậu Vũ?
Vũ nghiêng người sang gần chị, phân trần :
- Chế ơi là chế! bả ngồi ở dưới mà chế khai um sùm, cái này là chế hại "ngộ" dzồi… Bạn tui mà, nó ra tù th́ trốn xuống tàu, tui bảo đảm mà chế.
- Ờ, … mà mấy cái chú lính tráng ai mà tin nỗi cái chuyện vợ con, cậu ơi.
- Ậy, nó hiền lắm mà, chế hỏng thấy nảy giờ nó có nói ǵ đâu
- Th́ cậu có để cho ai nói đâu!
Vũ ngó tôi cười ha hả:
- Ngon nhe, có chế Hai bênh thằng em tương lai rồi đó.
Tôi đưa ca nhôm nước chanh lên xen vào:
- Cám ơn chế Hai và gia đ́nh nhiều lắm.
- Có chút ít mà... Thôi, tui để mấy cậu ngồi nói chuyện nghen.
Ngó xem chế Hai đă xuống dưới khoang rồi, Vũ nói nhỏ với tôi:
- Mày thấy bả hai con mà như vậy, th́ biết em gái bả ra sao!
Tôi uống nước trong ca và vui vẻ đùa theo với Vũ:
- Số dzách!... "Uống ...(ca) chanh đường, uống môi em ngọt"

Biển êm, trời trong xanh, chiều hôm nay thật đẹp.
Sáng mai, trong ánh b́nh minh, thuyền nhân 3392 sẽ được chào đón một ngày mới, được sống lại và được làm người tự do. Tôi ngắm ánh đèn đ ỏ xa phía trước, nh́n biển xanh hiền hoà, ḷng thanh thản, yên vui và tràn đầy hy vọng tàu sẽ đến bến bờ trong đêm nay.
Đă về chiều, chân trời có màu hồng ửng sắc vàng thật đẹp, có điều mỗi khi sóng đưa lên cao xéo bên trái có cái chấm đen. Cái chấm đen này, cáng lúc càng rơ dần và nó lớn lên khá nhanh. Tôi buột miệng:
-Tàu...!
Không biết sao, tôi thấy bất an trong ḷng khi nghỉ là tàu. Tôi cố gạt bỏ ư nghỉ đến tàu cướp biển Thái Lan, nhưng nó cứ chập chờn trước mắt, cứ làm tôi bồn chồn lo lắng. Tôi gọi Vũ đang đứng ló người qua mui, chỉ cái chấm đen cho Vũ xem:
- Hướng 11 giờ. Mày nghỉ sao về cái chấm đen này?
Vũ thấy ngay, chưởi thề lầu bầu:
- Tao nghỉ nó là tàu Thái Lan quá mày à... Má nó, tới đây rồi mà bị cướp th́ đau quá!
- Ừ, tao cũng thấy lo lắm. Bây giờ, thử cho là cướp biển, vậy ḿnh phải làm ǵ đây?... Không vũ khí, giao tàu hay chống lại?
Thấy Vũ yên lặng, tôi tiếp:
- Hay là... mày xuống bàn với gia đ́nh và bà con bên dưới...Tao một thân một ḿnh, tao bất chấp, tuỳ bà con...
Vũ đứng nh́n cái chấm đen đang lớn dần mặt lo âu. Tôi an ủi Vũ:
- Mày cứ xuống hỏi ư bà con trong tàu đi, rồi cho tao hay sớm. Dù sao… tàu ḿnh cũng đông người hơn!
Vũ trở lên với Tài, Dân, Duy, Liển; nó nh́n chấm đen đă thành h́nh dạng chiếc tàu di chuyển đến và cho tôi biết:
- Bà con không chịu giao tàu, mày nghỉ xem ...
Tôi nh́n Vũ chờ đợi.
-...không lẻ ḿnh xuôi tay để cho tụi nó muốn làm ǵ th́ làm ... Tới đâu th́ tới, thà chết chớ không giao tàu cho nó cướp !
Tôi hiểu ḷng bạn ḿnh và thân quyến trên tàu:
- Yên tâm! Nếu là tàu cướp và nó chưa hạ được tao, tao cùng bà con đánh đến cùng!... Không súng, ḿnh tính cách tự vệ theo không súng đạn.

Nhắc đến súng đạn, chúng tôi nhớ đến buổi chiều chuẫn bị vượt thoát cửa biển, ghé xưởng của ông Năm để thay bộ giăm thanh mới cho tiếng máy nhỏ hơn, Vũ có lấy cái ống giăm âm thanh cũ đem xuống tàu cất. Cái ống hăm thanh cũ bị khói nung thành màu đen, có lỗ dọc theo thân, mới nh́n qua trông giống ṇng súng lắm. Vũ chuyền ống giăm thanh lên mui, cùng mấy đứa em bày kế giă làm súng đại liên.

Vũ trở xuống hầm máy, đứng sẵn sàng để điều khiển máy. Bốn thanh niên đứng trên mui với tôi.
- Anh Tính cứ giữ tay lái, tụi em lo hết cho anh.
Tài nói với tôi. Tôi biết ư các em, khi tấn công, bọn cướp t́m hạ người lái tàu trước. Vũ cho bốn tay "chiến" lên trên mui với tôi. Nh́n bốn thanh niên sắc mặt đanh lại. Tôi biết mấy đứa này từ khi c̣n trẻ nhỏ, bây giờ đều là thanh niên lực lưởng.
Ngoài giờ học, các em của gia đ́nh Vũ vào làm thêm trong công ty cung cấp thịt tươi của của người bác. Nửa con ḅ xẻ ra, dài hơn thân người, mấy đứa nó xỉa ngón tay vào khối thịt xương to dềnh dàng, đưa thẳng lên máng vào móc sắt với một tay mà thôi. Thấy mặt mấy đứa làm trong "công xi" này, bọn du đảng trong thành phố né hết. Tôi biết mấy đưa em này không chỉ nói bằng miệng, lắm lúc không nghe nó nói, mọi chuyện đă xong. Tôi gật đầu:
- Có mấy em anh an tâm lắm.

Chiếc tàu lạ chạy nhanh quá!
Mới gát ống sắt giả làm ṇng súng lên cái thùng, chưa kịp cột đâu đó cho chắc chắn, th́ chiếc tàu đă lồ lộ tới. Sợ chúng thấy và biết đang làm súng giả, đành phải ngưng, lấy miếng vải đen trùm lên trên. Ṇng súng giả ló ra, nằm kế thùng đạn dùng để chứa đồ nghề, trông cũng khí thế lắm. Duy đứng kế bên, lấy chân chèn giữ cho cái ṇng súng cho nằm tựa vào chân băng ghế, đở lắc lư theo sóng. Chúng tôi cầu mong sao tàu lạ thấy cây đại liên th́ né tránh bỏ đi.

Từ hướng bên trái, chiếc tàu đánh cá đă tới rất gần. Thân màu gổ nâu vàng với những trang trí sặc sở và chữ Thái Lan. Mũi tàu cao sừng sững, như con ḱnh ngư không lồ. Cho tàu giữ tốc độ trung b́nh, sáu anh em chúng tôi chờ đợi hành động của tụi Thái. Chiếc tàu lạ phóng đến gần tàu chúng tôi th́ chạy chậm lại, ṿng ngang trước mũi, rồi qua bên phải. Không rơ chúng có bao nhiêu người tất cả. Thấy được hai tên trong pḥng lái, một tên đứng ở mũi, hai tên sàn tàu và một tên cạo đầu trọc đứng trên mui.
Tàu đánh cá Thái tiếp tục chạy chậm chậm ṿng quanh chúng tôi để dọ xét, như con thú dử đang vờn mồi. Khi nh́n thấy h́nh dạng khẩu súng đại liên, chúng nó có vẻ ngán, cho bung tàu tránh ra khá xa, nhưng bám theo và dùng ống ḍm theo dỏi.
Chúng tôi tiếp tục chạy tới ánh đèn, trong ḷng lo lắng nh́n chiếc tàu Thái Lan; nó như con thú đói c̣n thèm tiếc con mồi lắm, cứ bám theo măi.
Cái điều chúng tôi lo ngại vẫn xảy ra, cơn sóng to vổ mạnh vào tàu làm ṇng súng lăn rớt xuống. Tiếng kim loại gỏ lên mui tàu nghe khô khan, sáu anh em chúng tôi như nghẹn thở. Duy nh́n ṇng súng lăn lóc, bối rối. Tôi nói cho em an tâm:
- Nó phải rớt, làm sao giữ nó nằm yên với sóng được. Ḿnh chuyền cây sắt đó xuống dưới cho ba con làm vũ khí. Tụi Thái chắc đă nh́n thấy rồi, anh em ḿnh chuẩn bị đi, nó sẽ tấn công tụi ḿnh đấy.

Thật vậy, chiếc tàu Thái đang phóng ào ào trở lại chận đầu tàu chúng tôi.
Thoáng một cái, nó đă ṿng sát bên hông trái. Như để thị uy, cướp tinh thần, chúng cho tàu chạy thật gần, làm sóng cuộn lên, tạt vào mấp mé be tàu 3392 thấp nhỏ. Mấy tên Thái đánh cá đă hiện rơ thành những con thú man rợ mặt người. Chúng chạy vóng qua bên phải, ngó t́m cây súng trên mui. Ṿng qua sau đuôi, chúng đem tàu trở lại bên phải, rồi chạy song song và hơi lùi về phía sau chúng tôi.
Tôi nóng ḷng, thấy cái đèn đỏ đàng trước như vậy, mà chạy hoài chẳng thấy gần hơn. Cho dù có gần bờ biển Mă Lai, chiều tối xuống, tàu đánh cá quay về đất liền. Giữa đại dương, cô thế đối đầu với loài hải tặc, sự sống thật qua mong manh. Đứng giữ cần lái, tôi nh́n chừng động tịnh của tụi cướp. Tôi nói với mấy anh em trên mui, lưu ư hai thằng Thái đứng chống cây móc cá bằng sắt trên sàn tàu. So với chiếc 3392, tàu cướp cao lớn quá, cái sàn tàu đă cao hơn nóc mui tàu chúng tôi. Mui của tàu Thái có cửa ra vào đi thẳng người như cửa nhà, c̣n cái mui tàu 3392 th́ chỉ cao hơn đầu người đang ngồi chừng hơn hai gang tay. Tụi nó đứng trên sàn tàu, có được lợi thế là phóng từ trên cao xuống mui tàu chúng tôi. Với cái lực phóng xuống, nó sẽ đạp rất mạnh. Tôi lo lắng bảo Vũ:
- Ê Vũ, mày nên rút xuống, lo dưới tàu. Đậy và khoá nấp mui kín lại.
Bổng, một tên gọi thằng Thái lan đầu trọc đứng trên mui. Tên này lấy cuộn dây thừng thảy xuống. Nh́n nó chụp cuộn dây máng chéo qua người, linh cảm nó ra tay:
- Nó cướp tàu!
Chừng như cùng lúc với tiếng tôi la th́ chiếc tàu của tụi Thái gầm lên, chớp nhoáng đă nhập sát vào. Tôi chỉ kịp thấy loáng thoáng hai bóng người cầm chỉa sắt phóng xuống mui tàu ḿnh, th́ có bàn tay ai đó xô đè tôi xuống. Tay giữ cần lái cho tàu chạy thẳng, tôi ngước lên chỉ thấy bốn thân h́nh đă xoay tṛn che kín người tôi. Tiếng la hét, tiếng chưởi thề, tiếng chân tay vang huỳnh huỵch, đũ thứ âm thanh hỗn loạn quanh tôi.
Tất cả những diển tiến xảy ra thật đột ngột và ngưng cũng rất nhanh. Chớp nhoáng, mọi người xung quanh tản ra, hai thằng Thái Lan trên mui tàu ḿnh đă biến đâu mất.
Thấy mấy đứa em trên mui c̣n đũ, tôi an tâm lắm. Bốn anh em dồn sang mé phải của mui tàu, tay cầm chặt vũ khí, khí thế đằng đằng. Duy đứng kế Liển, hươi cây mả tấu của quân đội ṿng trên đầu, chỉa cái lưởi thép đen dài sang tàu cướp thàch thức:
- Muốn chết, qua đây!
- Tổ cha mầy!... dám cướp tàu tao hả
Liển đưa cuộn dây thừng đoạt được của thằng Thái Lan lên vẩy vẩy:
- Tao trói đầu tụi mầy!
- Ê... YOU! Come here… DIE!
Không cần phải nghe và hiểu, bọn cướp Thái Lan thừa biết mấy anh em chưởi rủa thách thức chúng nó. Tôi nh́n theo hướng của mấy anh em, đoán rằng hai thằng phóng sang cướp tàu, đang bơi dưới xuống biển:
- Tụi nó rớt rồi hả?
Tài cầm cái cây móc sắt của thằng hải tặc, quay lại nh́n tôi cười khoái trá:
- Ḿnh đánh tụi nó văng xuống biển hết rồi!
Nh́n khí thế mấy anh em bất khuất, gan ĺ, tôi rất thán phục. Vết máu tươi trên tàu làm tôi lo lắng:
- Mấy anh em rất giỏi, nhưng ai bị thương vậy?
- Ḿnh không sao hết. Máu thằng Thái Lan đó anh, nó bị tụi em chém trúng cánh tay, té văng xuống biển.

Lợi dụng tàu cướp c̣n đang lo vớt hai tên lọt dưới biển lên, tôi quanh tàu lấy lại hướng có đèn đỏ, cho tàu chạy lẹ tới.
Nghe yên tỉnh, Vũ mở nấp mui, xem t́nh h́nh. Nghe Tài trả lời tôi về hai thằng cướp biển, Vũ hả dạ lắm:
- Đứa nào "chơi" tụi Thái tới đổ máu vậy?
- Nó đâm anh Dân trước. Ảnh hốt được cây chỉa của nó và "dớt" cây dao vô cánh tay nó. Nó ĺ đ̣n lắm, bị không biết mấy lát, máu chảy ṛng ṛng mới quíu đít buông cây chỉa, ăn thêm một đá dập dái mới chịu nhào xuống biển... Em với thằng Duy phải đứng che cho anh Tính, chưa kịp vô ăn có được cái ǵ hết th́ tụi nó đi "đái"... dưới biển hết mẹ rồi!... Mạng hai thằng này c̣n lớn, thằng nào mà xáp lại gần tụi em th́ cây mă tấu của thằng Duy nó xả làm hai là hết về Thái luôn. Cây chỉa sắt của tụi nó nè anh Vũ.
Tài khoái chí đưa cho Vũ xem chiến lợi phẩm của mấy anh em. Nghe nhắc đến tên, Duy bước lại tiếp chuyện:
- Anh Dân mà có cây mă của em, một nhát thôi là cánh tay của nó rụng luôn. Má nó! Cho tàn đời thằng cướp biển..... Anh Liển th́ chưa thèm chơi dao. Tay không thôi! Ảnh "đục" thằng Thái đẹp lắm anh Vũ ơi ! ....Cái thằng "cốt đột" mang dây thừng đó, nó phóng qua đạp hụt ảnh. Ảnh né ngang, sàng người qua chặt cạnh tay đánh bay cây chỉa của nó liền. Nó chưa kịp hoàn hồn vía th́ bị ảnh tóm được cuộn dây trên cổ nó…
Má nó! Ảnh ghị cuộn dây, lôi cái đầu nó xuống cho ăn gối với chỏ tới tấp, coi đă luôn!... Em bảo đảm ba ngày nửa nó chưa hả miệng húp cháo nỗi. Nó quậy vuột khỏi cuộn dây th́ bị anh Liển tống cho một đạp văng xuống biển.
Tôi hỏi Duy:
- Cây "mă" ở đâu vậy?
Duy cười, vỗ lên cái bao đeo khuất bên trong cái áo:
- Nó đây, anh! Mấy ảnh lo cho em nhỏ con, cho cái "thằng" này theo em đây.
Nh́n cái cán dao lấp ló bên mớ tóc để dài của Duy, tôi khen:
- Hay! Mấy đứa hay thiệt,
Th́ ra, mẹo xưa mà vẫn hiệu quả. Mấy thằng Thái thấy bốn thanh niên tay không đứng trên mui với tôi sinh ra khinh địch, phóng xuống tàu chúng tôi định uy hiếp để bị ăn đ̣n lảnh thẹo.

- Mày nhớ cây "mă" này mà!
Vũ nheo mắt bảo tôi.
Gọi là mă tấu, chứ thực ra nó là cây dao "phát quang" của quân đội ḿnh, lưởi dài khoảng ba gang tay. Vũ nài nĩ xin ông anh bà con bên hải quân cây dao này để "hộ thân". Lúc c̣n đi học, nó đă một thời gắn bó với chúng tôi. Hồi đó, chúng tôi dấu nó dưới yên xe Honda của thằng Phát (U.N. Phát, 324), ba đứa một xe đèo nhau đi tiếp ứng bè bạn. Tới nơi, thằng Phát thắng xe sàng ngang, phóng xuống dỡ cái yên xe lên cho thằng Vũ rút cây "mă" ra. Cả đám đang vây đánh thằng bạn thấy ba đứa chúng tôi phóng tới và thằng Vũ hầm hầm quơ cây mă tấu th́ khiếp đăm ùa nhau lên xe chạy mất hết.
- Ừ, nhớ chớ!
Hồi đó chúng tôi chỉ dùng nó để "hù" mà thôi, cố tránh gây thương tích.

Có chiến lợi phẩm. Có máu!
Tụi nó đă bị đổ máu trên tàu chúng tôi, chắc chắn sẽ t́m cách trả thù. Chúng tôi phải gấp rút lo cách tự vệ. Một nhóm thu nhặt, tận dụng các chay bằng thuỷ tinh, đổ xăng vô làm bom xăng. Để tránh bị phóng hoả đốt tàu, bà con trên tàu gấp rút chặt tháo cái mui lá che khoang tàu, xô xuống biển, cho trống thoáng. Đàn ông thanh niên t́m búa, dao, cây, xà beng,... cái ǵ làm vũ khí được th́ cầm sẵn trên tay. Đàn bà phụ nữ c̣n trẻ bôi dầu cho dơ bẩn, trốn kín trong hầm mũi và hầm máy phía sau, ráng giữ im lặng.
Đàn ông thanh niên đông người và đầy nhiệt t́nh, mọi việc hoàn tất thật nhanh chóng. Có lẻ, nhờ tin chém và đánh hai thằng cướp Thái Lan văng xuống biển, mọi người tuy c̣n nét lo lắng nhưng có vẻ tự tin hơn. Anh em thanh niên trông b́nh tỉnh, tụm từng nhóm nói chuyện và ngó chừng xem tàu cướp có đuổi theo tấn công tiếp hay không.

Hơn sáu giờ chiều, mặt trời ch́m vào ḷng đại dương, chút ánh sáng vẫn c̣n sót lại trên nền trời.
Ngày sắp hết!
Niềm hy vọng đến bến bờ tự do của chúng tôi cũng sắp tàn lụi.
Tôi xót đau khi nh́n đôi mắt thất thần tuyệt vọng trên những gương mặt tái xanh, bê bết dầu máy của những người mẹ, người vợ, những chị em gái trẻ. Trẻ con như linh cảm được nỗi kinh hoàng của mẹ cha, ngồi co rúm sợ sệt.
Tôi nghe tiếng th́ thầm cầu nguyện!
Tôi thấy nước mắt và nươc mắt!
Niềm hân hoan chiều nay sao quá ngắn ngũi!
Thượng đế hỡi, sao định mệnh quá khắc nghiệt với chúng tôi!

Chạy được một đoạn chừng nửa giờ th́ Vũ khều tôi chỉ ra phía sau:
- Nó tới!
Tiêng báo động chuyền nhanh ra tới mũi tàu. Những thuyền nhân trọng tuổi nhường chỗ ẩn trốn trong hầm kín cho phụ nử trẻ, gom lại trong góc gần phóng lái cùng với trẻ con, ngồi co ro sợ sệt trên sàn tàu. Đàn ông, trai trẻ lấy vũ khí cầm lên tay, gọi nhau sắp xếp chỗ đứng và phân định trách nhiệm.
Sau khi tháo bỏ cái mui lá che lụp xụp trên khoang tàu, chiếc 3392 bây giờ trông gọn gàng, sẵn sàng tham chiến. Hàng người đứng dàn dọc theo hai bên thành tàu thật oai dũng. Nhóm đánh bằng bom xăng cũng sẵn sàng chờ tàu cướp sáp lại gần tầm để chọi bom xăng sang. Thật xúc động khi nh́n tinh thần chiến đấu của những anh em dáng vóc thư sinh, b́nh thường chắc là rất sợ chuyện đánh nhau. Tôi nh́n con tàu với hàng người đang dàn đội h́nh, h́nh ảnh oai hùng thật tuyệt vời và cũng thật xót xa. Dù đông người, dù đồng ḷng sẵn sàng liều thân, nhưng thân dạng hai chiếc tàu quá bất cân xứng, như trứng chọi đá, tàu có mấy trăm người cũng xuống biển hết. Trong nhân số bảy mươi ba người, có khoảng ba mươi phụ nữ và mười lăm trẻ nhỏ. Không phép lạ và không tàu nào đến can thiệp kịp thời, không biết bao nhiêu thuyền nhân sẽ sống sót.

Vói tay nắm cần ga kéo tăng tốc độ, tôi biết máy đă chạy hết mức rồi, nhưng vẫn thấy bực tức v́ không c̣n cách ǵ để làm tàu chạy nhanh hơn chúng nó được!
Chiếc 3392 đă chạy hết tốc lực từ hồi chiều đến giờ!
Nh́n ngang qua tàu Thái, thấy thằng lái tàu đang lườm lườm ngó tôi, tôi phát đổ quạu. Ngay từ giây phút đầu, tự biết thân phận yếu thế, chúng tôi đă giữ thái độ rất ôn hoà, không hề khiêu chiến. Tôi lo ngại cho chiếc 3392 sau cùng rồi sẽ phải chấp nhận thăm bại. Những thyền nhân sống sót sẽ phải hứng chịu trận đ̣n thù của bọn hải tặc và tôi sẽ là người đầu tiên nó t́m giết. Tôi biết, sức ḿnh bây giờ không đũ để gạt tránh cái đấm thẳng của chúng nó, nói ǵ đến đánh với đấm. V́ hai chữ Tự Do chúng tôi cố t́m đường để thoát khỏi móng vuốt của loài quỉ đỏ cộng sản. Chấp nhận ra đi, tất cả thuyền nhân 3392 đă chấp nhận tất cả mất mát, kể cả tính mạng.
Máu nóng bừng bừng, sôi sục.
Tôi oán hận loài súc sinh cộng sản!
Tôi căm hờn bọn cướp biển!
Tôi ghê tởm dân tộc Thái Lan ! Một giống dân vốn nỗi tiếng trên thế giới về tôn sùng đạo Phật, nhưng đối với thuyền nhân cô thế trên biển đông chúng là loài thú man rợ, loài quỉ dữ khát máu.
Tôi ngó thằng lái tàu ḷng sôi hận, bực dọc lột phăng cái áo, quăng mạnh xuống chân, xoay gót đạp chấn xuống và xoáy nghiến lên cái áo. Tôi chỉ mặt nó rồi chỉ xuống cái áo đang nằm dưới gót chân tôi, thách thức.
Hận nhớ tội ác của hải tặc Thái Lan đối với thuyền nhân Việt Nam, tôi uất ức thề với ḷng ḿnh:
Chết cũng không bao giờ tha thứ bọn cộng sản và bọn cướp biển Thái Lan chúng mày!

Tàu Thái chạy cặp theo, giữ khoảng cách quan sát chúng tôi. Trong tiếng máy tàu gầm hú, hàng người nghênh chiến đứng trên khoang căm hờn chờ đợi.
Tàu 3392 lái bằng cần dài, đứng trên mui điều khiển nên nguy hiểm khi sóng to bảo lớn, nặng tay...nhưng có ưu điểm xoay trực tiếp với bánh lái dưới biển nên đổi hướng rất nhanh. Tàu chúng nó điều khiển bằng tay lái tṛn, nhẹ nhàng và an toàn trong pḥng lái, ṿng quay truyền qua bánh răng rồi mới kéo dây xích chạy qua các ṛng rọc để xoay bánh lái, nên cần quay nhiều ṿng hơn để đổi hướng tay lái.
Tôi ngó chừng cử động của thằng lái tàu. Bất thần, hai tay nó quay ṿng tay lái liên tục, tôi báo động:
- Bên phải! Nó tấn công!
Tàu cướp đổi hướng và hụ máy chạy đâm thẳng vào hong tàu chúng tôi. Bị một trận đ̣n bầm dập và đổ máu, bọn cướp đă sợ nên thay đổi chiến thuật, không dám cặp tàu để nhảy sang nửa. Chúng dùng tàu húc chúng tôi! Cây đà mũi vuông cao ngất, chẻ sóng phóng ào ào tới. Thấy cái chết ngay trước mắt. Khoảng cách quá gần, chớp mắt là nó cắt tàu làm hai. Tránh không kịp cái húc này th́ chiếc 3392 thành những mảnh ván vụn.
Máy tàu không thể nào chạy nhanh hơn để tránh bị húc trúng!
Tôi gấp rút ngồi thấp xuống, xoải một chân quỳ gối lên sàn mui để chồm người dài ra và cùng lúc hai tay xô cần lái thật nhanh sang phải. Bánh lái tàu hứng trọn luồng nước đẩy của cánh quạt làm sóng nổi dựng dậy, nước phía sau đuôi ùn ục đẩy ngang qua bên hong. Mũi tàu tức tốc quay gặt ngang qua trái. Tàu quẹo gắp chao nghiêng, tôi thoáng thấy như có người bên mé trái bị mất thăng bằng rớt xuống biển. Tôi không chắc lắm, nhưng không thời gian để nh́n ngược lại và cũng không thể làm ǵ khác hơn là phải tiếp tục cho tàu xoay nhanh để né cái mũi tàu đang vùn vụt phóng tới sát kế bên.
- Thấy mẹ rồi! chết thằng Hiến... nó té xuống biển !
Vũ hốt hoảng la và tuột nhanh xuống khoang t́m phao.
Hiến đứng cạnh bên trái, té xuống ngay trong lúc tàu quanh sang cùng hướng, rất ít hy vọng sống sót, chắc chắn bị lườn tàu đập trúng và tàu Thái bám sát theo chúng tôi nhận ch́m xuống biển . Sóng tàu cùng sóng biển xoáy cuốn Hiến mất tăm dạng ngay tức khắc.
Chúng tôi đă mất Hiến!
Anh là chiến sĩ dũng cảm của tàu 3392 hy sinh đầu tiên.
Vũ thảy hai cái phao xuống biển, cầu may. Chúng tôi ghi nhớ công ơn của Hiến. V́ hai chữ Tự Do, anh đă liều thân vượt trốn và đứng cùng tuyến đầu chiến đấu bảo vệ con tàu.

Trong lúc đó, bên hong phải, cái mũi tàu của tụi Thái vẫn ào ào bám theo. Không thể làm ǵ khác hơn để cứu chiếc tàu khỏi bị vở nát, tôi phải tiếp tục giữ tay lái cho tàu quay ṿng hẳn ra sau. Cái máy dầu cặn già nua phải chạy tốc độ cao kêu rú nghe thật nóng ruột. Cánh quạt đạp nước đẩy thân tàu quay thật nhanh ra sau. Trong gang tấc, tàu 3392 né thoát cái húc và tàu cướp lướt sát ngang hong tàu. Thừa cơ hội hai tàu vừa nhập gần sát vào nhau, nhóm đánh bom lập tức khai hoả và chọi chai xăng sang. Tàu cướp không ngờ chúng tôi dùng bom xăng, hốt hoảng khi thấy lửa bùng cháy trên sàn tàu, chúng túa ra hối hả kéo ṿi nước đến cứu chửa. Tiếc là bom xăng không gây thiệt hại đáng kể nào khác trên sàn tàu v́ lửa bị dập tắt khá nhanh bằng các ṿi nước phun rất mạnh.
Chưa kinh nghiệm chiến đấu, phản công như thế là quá thành công, anh em tuy lo nhưng tinh thần phấn khởi.
Nương theo ṿng quay ra sau để né tránh, tàu tiếp tục quay tṛn để lấy mũi trở lại và chạy thẳng vào hướng đèn đỏ. Tàu cướp sau khi chửa cháy, quay tàu lại, đuổi theo và tiếp tục tấn công.
Cứ khoảng hai mươi phút th́ có một trận xáp chiến. Con tàu 3392 khi bị húc th́ quay ṿng ra sau né để tránh bị húc bể tàu, đồng thời quăng bom xăng sang để phá rối và tŕ hoản bọn cướp. Suốt hai giờ chúng liên tục tấn công nhưng vẫn chưa hạ được chúng tôi. Chiếc 3392 tuy bé nhỏ và máy yếu, may mắn né thoát và tiếp tục chạy tới.
Bây giờ đă hơn tám giờ tối, ánh sáng ban ngày chỉ c̣n nhợt nhạt một ṿng nhỏ ở hướng tây. Trên tàu Thái có ánh đèn pha chớp ngắn dài, chúng tôi nghỉ là nó đánh tín hiệu cho đồng bọn, nhưng không biết chuyện ǵ sẽ xảy đến. Đối đầu một tàu cướp như thế này đă khốn đốn cho chúng tôi lắm rồi. Cả buổi chiều, tàu quay ṿng ṿng nên chạy tới không bao xa. Hơn hai tiếng đồng hồ, cái máy chạy hết tốc độ nhưng ánh đèn đỏ vẫn c̣n chớp xa ngoài xa.

Khoảng nửa giờ, sau khi tụi cướp đánh tín hiệu đèn, chiếc tàu Thái Lan thứ hai đến. Chắc nó cũng đồng trọng tải, h́nh dạng to dềnh dàng nhưng tàu không sơn nhiều màu sặc sỡ như hầu hết các tàu Thái Lan, chỉ sơn một màu xám tro như tàu hải quân. Trong ánh chiều tàn lem nhem ánh sáng trên biển cả, chiếc tàu màu xám trông có vẻ lầm ĺ, kỳ dị. Trời càng lúc càng đen tối như hy vọng đến được bến bờ tự do của tất cả thuyền nhân tàu 3392.
Từ khi bị tấn công, chúng tôi trông mong có chiếc tàu nào đó can thiệp làm tụi Thái sợ bỏ đi. Tàu bạn đến tiếp cứu trông mơi ṃn không thấy, bây giờ lại xuất hiện thêm một chiếc tàu cướp nửa. Một chiếc tàu cướp đă làm chúng tôi khốn đốn, bây giờ hai chiếc cùng tấn công làm sao bảo toàn được thân xác. Mặc cho hai chiếc tàu cướp chạy cặp hai bên, đèn pha rọi xuống chiếc 3392 đơn độc, tôi cứ giữ theo ánh đèn đỏ trên bờ, kéo hết tốc độ chạy tới. Theo h́nh dạng và độ sáng của ánh đèn đỏ phía trước, chúng tôi tin rằng ḿnh đang chạy trong lảnh hải của Mă Lai. Cũng v́ tàu đang tiến vào gần đất liền, bọn cướp gọi thêm đồng bọn đến và nhất quyết hạ chiếc 3392 trước khi chúng tôi đến gần bờ hơn hoặc được tiếp cứu bởi tàu Mă Lai. Tiếng máy gầm rú v́ phải chạy hết tốc độ nghe rất đau ḷng. Lo lắng cho cái John Deer già nua này lắm, nhưng không thể chạy chậm lại. Mỗi phút giây c̣n thoát chạy trên mặt biển lúc bây giờ quư lắm, giá trị của thời gian đếm liền với sinh mạng của chiếc tàu và thuyền nhân.

Có thể đă liên lạc bàn tính với nhau xong, một lúc sau, tụi cướp mở đợt tấn công kế tiếp. Lần này,chiếc tàu màu vàng chạy cặp gần hơn, rồi bất chợt nó quay ngang húc chúng tôi. Mũi chiếc tàu dựng cất cao lên, tàu chẻ sóng phóng vụt vụt tới đâm vào hong phải.
Đèn pha rọi chúng tôi chói chang.
Liếc nhanh sang trái, thấy chiếc tàu cướp thứ hai cón cách khá xa, chừng như nó muốn theo dỏi cách tránh né và phản công của chúng tôi, chưa có ư nhập trận ngay, tôi cho tàu né sang trái.
Gắp rút đẩy cần ga, hạ ngay tốc độ, tôi gọi Vũ:
- Số "de" Vũ!
Nhịp nhàng Vũ đổi số thật nhanh. Tôi kéo ga cho con tàu thắng gắp lại và chạy lùi xéo nhanh sang phải, rồi tức tốc hạ thấp tốc độ lần nửa. Vũ hiểu ư, không chờ gọi, đạp embrayage chuyển trở lại số tới. Số gài xong, máy vứa chớm tới, tôi kéo cho máy chạy hết tốc độ, gặt nhanh cần lái cho tàu né quặt ngang qua phía trái để tránh. Nhờ thắng lùi lại, tàu chúng tôi né thoát cái húc của tàu cướp, hai thân tàu nhập gần nhau, thật gần, bom xăng khai hoả và nối nhau tấp tới bay sang tàu Thái. Trời nhá nhem tối, những ṿng lửa trông thật đẹp, thật hào hùng.
- Chết mẹ mày chưa!
Có người kêu lên hả dạ cùng với tiếng reo ḥ vang dậy của đội nghênh chiến trên khoang. Vũ vui mừng la lên cho tôi biết t́nh h́nh:
- Chay xăng lọt vô pḥng lái...tay nào chọi nghề quá!
Khi tàu quay ṿng lại, tôi thấy bọn cướp c̣n đang nhốn nháo chửa lửa và cứu thằng lái tàu. Tôi khoan khoái trong ḷng, anh em trên tàu vừa ghi thêm một chiến tích. Lấy lại hướng, theo ánh đèn đỏ, tôi cho tàu tiếp tục chạy lẹ vào Mă Lai. Không thấy chiếc màu xám đuổi theo, chắc nó ở lại tiếp cứu đồng bọn. Anh em trên tàu vừa vui mừng hy vọng chúng bỏ cuộc vừa lo lắng một trận trả thù tàn bạo sắp tới. Nh́n ánh đèn đỏ bây giờ có vẻ sáng rơ lắm, chúng tôi đă đến gần nó lắm rồi. Tôi mừng và nôn nao lo lắng, mong sao thoát khỏi bọn cướp. Xót cho cái máy già nua, nhưng phải tận dụng thời gian, chúng tôi đành phải giữ tốc lực nhanh tối đa, cố gắng rút ngắn khoảng cách đến Mă Lai.
- Chết rồi, thùng nước bị sôi!
Vũ hốt hoảng kêu lên.
Chưa kịp hỏi han chi thêm th́ bạn ḿnh đă tuột nhanh xuống hầm máy.
Tôi ngó ra sau thăm chừng đám tàu cướp. Một góc biển c̣n ánh đèn pha sáng, tụi nó vẫn c̣n đó, nhưng trong t́nh trạng máy đă bị nóng, tôi đành phải giăm tốc độ để máy nguội nhanh hơn.
Giữa lúc khốn cùng như thế này mà máy bị nóng.
Nước biển dùng làm nguội khối nước giăi nhiệt bên trong máy được chứa trong cái thùng biến chế từ "can" xăng phụ của xe Jeep. Suốt bốn tiếng đồng hồ máy phải liên tục chạy hết tốc độ, số lượng nước biển lưu thông qua dung tích giới hạn của cái thùng xăng, không đũ để kịp thời làm nguội máy và chính nó cũng bị nóng, sôi bốc hơi.
Bên dưới, bổng có tiếng kêu nói rối rấm lên. Tôi ngó xuống, thấy hơi nước mù mịt, bốc xuyên qua nấp thông trên mui. Pḥng máy đầy ấp người. Không thấy bóng dáng Vũ, tôi lo lắng hỏi thăm:
- Vũ đâu rồi?
- Anh Vũ bị phỏng nặng lắm.
Có tiếng hối hả trả lời.
- Làm ơn tránh qua một chút cho tui nói chuyện với thằng Tính.
Vũ lên tiếng. Khi người ta tản bớt ra, tôi thấy Vũ nằm nh́n tôi qua khung cửa trổ lên mui, gượng đau nó ráng nói lớn tiếng cho tôi nghe :
- Cái nắp bị tuôn răng ...tao bị phỏng rồi, hết phụ mày chạy máy được!
Nh́n nụ cười gượng gạo của người bạn thân và vùng da thịt từ ngực xuống hết phần bụng của nó bị phỏng đỏ, bầy nhầy dưới lớp thuốc thoa, dạ nào cũng thấy đau rát, tôi chỉ c̣n biết an ủi Vũ:
- Mày phải nằm nghỉ cho thuốc thấm... Nước máy ra sao?
- Chăm nước mới xong... không biết có bị nứt máy không!
Vũ tuy biết nguy hiểm, thấy thùng nước sôi quá, nó định vặn nấp nới chút ít cho thoát hơi bớt, để rồi mở ra chăm nước lạnh cho máy mau nguội, đừng bị "đứng" máy. Nhưng, cái nắp của thùng nước giăi nhiệt, vốn là cái "can" xăng phụ của xe Jeep, không chịu được áp xuất cao lại thêm cũ kỹ, răng đă bị ṃn lỏng lẻo. Khi Vũ vừa vặn xả lỏng đi, các ṿng răng bên trong không c̣n bám chặt được, nắp bị sức ép của nước sôi tống văng đi, hơi và nước nóng làm nó bị phỏng nặng.
Có ánh đèn pha từ phía sau, Vũ cũng thấy, nó lo lắng:
- Đ.M. tụi nó c̣n theo ḿnh hả mậy?!
- Ừ , c̣n xa...Mày cứ nằm nghỉ đi
Tôi nói cho Vũ yên tâm. Cái máy bây giờ không thể chạy nhanh như trước được, phải ráng dưỡng thêm chốc lát cho máy giăm nhiệt độ. Khi tàu cướp Thái Lan muốn đuổi theo th́ dù có chạy hết tốc độ cũng không thoát chúng nó được.

Đă gần mười giờ đêm rồi!
Gần nửa ngày theo đuổi và tấn công, bọn hải tặc Thái vẫn chưa hạ được chiếc tàu mong manh của chúng tôi. Thuyền nhân 3392 không những đă bất khuất chiến đấu bảo vệ con tàu, c̣n gây cho bọn hải tặc Thái kinh hoảng và nhiều lần bị tổn thương. Nhưng sức người và con tàu đă vượt quá khả năng. Với tốc độ như hiện tại chúng tôi khó mà đến bờ trước khi tàu cướp đuổi tới và không biết máy c̣n chạy thêm được bao lâu. Vũ bị phỏng nặng, không t́m đưọc ai có thể đứng máy để thay đổi số, tàu chỉ có thể chạy nhanh hay chậm với một số tới mà thôi. Bom xăng chỉ c̣n sót lại vài chai, để phản công cầm chừng. Khi bọn hải tặc gọi thêm chiếc thứ hai, bọn cướp đă quyết tâm tấn công hạ tàu. Cứu chửa đồng bọn và pḥng lái bị bom xăng xong, chắc chắn chúng nó không bỏ cuộc sẽ đuổi theo trả thù. Trận tấn công sắp đến chắc sẽ là trận quyết tử sau cùng của thuyền nhân 3392.
Biển về đêm, ánh đèn đỏ trên bờ biển Mă Lai càng sáng tỏ. Chỉ c̣n chừng tám hải lư, khoảng mười lăm cây số, chúng tôi sẽ đến bến bờ Mă Lai.
Đây, Mă Lai!
Bến bờ tự do hằng mơ ước của hằng triệu người Việt Nam và cũng là ước mơ của bảy mươi ba người chúng tôi. Miền đất hứa là đây, ngay trước mắt đấy, nhưng từ phút giây này đă biến thành ước mơ viễn vong. Chúng tôi nh́n ánh đèn trên đất Mă Lai với muôn vàn xót đau nuối tiếc.
Đêm nay, bao nhiêu thuyền nhân sẽ phải uất hận chôn vùi thân xác và ước mơ tự do trong biển lạnh.
Trời sao quá khắc khe!
Định mệnh sao quá oan nghiệt!

Hôm nay, ngày thật dài !
Niềm vui thấy được bến bờ tự do lại quá ngắn ngủi.
Tiếng máy dầu cặn chậm buồn, mệt mỏi như ḷng người trên tàu. Tội nghiệp cái máy già nua yêu quư đă dâng hiến hết năng lực cho chúng tôi vượt thoát t́m tự do. Trời như đứng gió, không gian chừng như trùn hẹp lại, hơi thở nghẹn trong ḷng ngực. H́nh như ai cũng linh cảm được, một cuộc chiến đấu sống c̣n sau cùng sẽ rất khốc liệt và không ai muốn khuyên nhau những điều mà mọi người đều biết.
Tôi nh́n Vũ nằm nhắm mắt, mặt đanh lại ráng chịu đau, nghe xót rát trong ḷng và đầu óc rối rấm. Bây giờ, không ai bên dưới biết dùng hộp số máy tàu. Đổi số vụng về làm tắt máy, có khi c̣n nguy hơn là để yên như cho nó chạy tới như hiện tại. Cần ba anh em thay nhau điều khiển tàu, anh Ba đă phải ở lại, bây giờ Vũ phải nằm dưỡng thương. Đội chiến đấu ngoài mũi tàu yên lặng đứng dựa lưng vào thành tàu nghỉ ngơi và chờ đợi. Đa số tuy âu lo và mệt mơi nhưng vẫn giữ được tinh thần cương quyết, bất khuất. Liển, Duy, Dân và anh em trong nhóm bom xăng chia nhau thăm hỏi bà con t́m trong hành lư, lục lọi khắp hóc kẹt trong khoang, xem may ra có c̣n t́m thêm được lon chai để làm làm bom xăng.

Biển yên b́nh. Hồi chiều, bực thằng lái Thái Lan, cởi áo quăng đi, bây giờ gió đêm làm cái cơ thể thiếu ăn uống nghe se sẻ lạnh. Tôi nh́n đồng hồ, vài phút ngắn nửa qua mười giờ đêm rồi.
Từ sáu giờ chiều, bốn giờ qua, tưởng như cả một ngày dài.
- Làm bậy ít hơi cho ấm đi anh Tính.
Duy chồm lên mui, vói tay đưa cho tôi điếu thuốc đốt sẵn.
Tôi thăm hỏi Duy :
- Tài ở dưới với anh Vũ hả? Em thấy ảnh ra sao ?
- Ảnh lỳ lắm, em chẳng nghe ảnh kêu nói ǵ, nhưng phỏng nặng thế này th́ chằc là ảnh bị đau lắm.

Tôi nh́n thăm chừng ra phía sau, đại dương mênh mông, chỉ c̣n thấy đêm đen. Cái vắng lặng ngột ngạt rờn rợn. Tôi không thấy mừng, không tin chúng nó bỏ cuộc, bàn với Duy:
- Anh nghi tụi nó không bỏ tàu ḿnh đâu! Nó tắt đèn và bám theo ḿnh để bất ngờ tấn công. Mất ánh đèn nảy giờ có hơn năm phút rồi. Năm đến mười phút nửa là tụi nó tới ḿnh. Anh em ráng bảo nhau giữ vững tinh thần, lắng nghe động tịnh. C̣n bao nhiêu bom xăng ḿnh gom lại chơi hết.
Tôi nuối tiếc nh́n ánh đèn đỏ sáng lấp lánh cùng hàng triệu v́ sao trên bầu trời. Có phải chăng triệu anh linh của đồng bào tử nạn khi vượt trốn loài cộng sản dă man, đang nh́n xuống âu lo và đang thấp cho chúng tôi những ngọn nến nguyện cầu?

Như tôi đă linh cảm, bất chợt từ bên phải có ánh đèn pha sáng cắt xuyên đêm đen và bên trái chiếc màu xám cũng bật đèn rọi xuống tàu chúng tôi.
Biết ḿnh có chạy nhanh cũng bằng thừa, làm sao qua nỗi sức máy của tàu cướp, nhưng bản năng vùng dậy, sự sống c̣n cho hơn bảy mươi sinh mạng, tôi tăng hết tốc độ máy chạy thẳng tới. Sóng ùn ục đạp cuộn ra sau, tiếng máy lại rú lên đau đớn như những nhịp co thắt trong tim và thân tàu bươn bả trốn chạy trong vô vọng. Như loài thú đói đă thấy được con mồi, hai con quái vật khổng lồ đồng quay mũi chẻ sóng phóng đến. Đèn pha từ tàu cướp châu vào nơi tôi đứng lái, ánh sáng chói và nóng như mang theo cả lửa thù, tôi ráng tránh ánh sáng để khỏi bị loá mắt. Lạ lùng, cái thằng lái tàu này thuận quay sang trái hay sao! chiếc màu vàng vẫn từ bên phải húc thẳng vào giữa tàu. Tôi nh́n sang trái, định quay ṿng tàu để né tránh, thấy lạnh dọc trên sóng lưng:
- Chết rồi!
Đám hải tặc trên tàu màu xám theo dỏi trận xáp chiến vừa qua, rút kinh nghiệm, đă quay mũi tàu đang phóng tới chận gần phần đuôi. Chiếc 3392 giờ hết phương hướng để thoát. Cho dù Vũ không bị phỏng, c̣n đứng máy để giúp tôi cho máy chạy ngược lại, tàu cũng chưa chắc thoát hai cái húc từ hai phía, chận đầu và chận cả đuôi. Tôi kinh hoàng, la lên:
-Tàu ch́m!

Không c̣n phương cách nào khác để cứu chiếc tàu, tôi gắp rút kéo hạ tốc độ cho tắt máy và bẻ nghiêng tàu sang trái cầu may cho tàu bớt sức va chạm.

Đùng!

Tai nghe như có tiếng nổ quả lựu đạn sát bên. Tôi căm thấy thân người bị tống bay lên cao. Một lực nào nào đó thật khủng khiếp tung tôi lên. Tôi không biết ḿnh c̣n sống, sắp chết hay đây là linh hồn ḿnh đang bay bổng lên cao.
Bỗng tôi thấy thân người bị va đập mạnh, rồi ch́m hụp trong khối nước. cái lạnh của vùng biển sâu làm đầu óc tôi bừng tỉnh. Mắt cay rát, thấy xung quanh tối đen, tôi nhận ra ḿnh đang ch́m trong biển. Nước mặn đắng, đầy ngập trong mũi, trong miệng.

Nghẹt thở!
Tôi đạp nước cố trồi người nhanh lên mặt biển.
Thật kinh hoàng!
Một vùng biển sáng trắng ánh đèn.
Tôi không nh́n ra được đâu là thân dạng con người!
Có con người nào sống sót hay không?
Trong vùng ánh sáng, mặt biển như một mảng sông gần chợ nhóm, bị rác rưởi trôi dạt tấp đầy mặt nước. Hành lư, vật dụng, mảnh ván tàu bể vụn lẫn lộn nhau và hai chiếc tàu cướp đang chạy quét rọi đèn pha gần ngay phía trước. Tôi nh́n quanh quẩn không t́m thấy bóng dáng của chiếc tàu thân yêu. Có mảnh ván tàu theo sóng trôi ngang, tôi bơi tới ôm giữ lại làm phao. Tựa lên ván, tôi nhóng người lên cố t́m con tàu, kiếm Vũ, kiếm tất cả những ai trên tàu ḿnh.
Đâu là những khuôn mặt trẻ thơ?
Đâu là bé Cẩm con của Vũ?
Hiền và Hiếu, hai đứa con của anh Ba ra sao?
Trời hởi! Làm sao trẻ con sống sót được trong biển cả và đêm đen?!
Những người trọng tuổi, phụ nữ yếu đuối làm sao bơi để sống c̣n?!
Những anh em thanh niên anh dũng trên tàu ḿnh, ai c̣n ai mất, đâu mất hết rồi?!
Nghe tiếng người gọi nhau, tiếng kêu khóc lẫn lộn với tiếng sóng đập rào rạt, nhưng nh́n quanh không thấy đưọc ai cả. Sóng và bóng đêm che khuất hay người kêu la xong bị ch́m mất chăng?!
Tôi bối rối, lo lắng lắm. Nương tấm ván tôi hối hả bơi và nhóng người lên t́m kiếm. Chợt nghe có tiếng gọi tên ḿnh, quay lại thấy Duy đang bơi tới, trán Duy bê bết vết máu:
- Anh Tính!
Tôi mừng lắm khi thấy Duy c̣n sống. Đạp nước đẩy nhanh tấm ván của tôi tới cho Duy vịn:
- Gia đ́nh, anh em, bà con ḿnh trên tàu đâu?
- Em hết biết rồi! …Bị nó chặt trúng, em thoát ra bơi đến đây mới gặp anh thôi!
Tạt nước rửa bớt vết máu trên mặt Duy, máu c̣n đang chảy xuống nhưng vết thương trên trán cạn. Bơi đẩy Duy, hai anh em chúng tôi cố gắng tránh nhanh ra chỗ không có ánh sáng.
Tôi vỗ vai Duy căn dặn:
- Em ôm tấm ván này bơi tránh xa ánh đèn và tàu tụi Thái. Mệt cũng ráng bơi cầm chừng, ngưng là chết lạnh. Ráng nghen Duy.
Không để cho Duy chần chừ lo cho tôi, tôi đẫy mạnh tấm ván ra xa và bơi tránh đi ngay. Với luồng sóng đẩy, phút chốc Duy và tấm ván trôi đi mất trong bóng đêm. Quay trở lại ven vùng có đèn, tôi bơi quanh quẩn và gọi t́m xem có c̣n thấy được ai nửa, nhưng chẳng ai trả lời. Một đợt sóng đưa tôi lên cao, may sao thấy mũi tàu đang trồi lên gần đấy, tôi bơi nhanh lại. Cái neo, tôi cuộn cất trong hầm mũi trước khi ra khơi, lúc tàu bị húc gảy làm hai, nó theo ḷng tàu vở trống rơi xuống biển và neo giữ mũi tàu nằm lại ngay đây. Biết con tàu đă ch́m, nhưng khi ôm vịn cái mũi tàu, tôi nghe nước mắt sôi nóng căm hờn. Tôi uất hận nguyện xin với đất trời:
- Tôi phải sống, để thế hệ kế tiếp biết tội ác của loài cộng nô và bọn hải tặc Thái. Tôi xin thề rằng, cho đến hơi thở sau cùng, tôi không bao giờ quên và không bao giờ tha thứ cho bè lũ cộng sản và bọn hải tặc Thái Lan.

Rất đông người, hầu hết là phụ nữ, đă chen chúc núp trốn trong hầm mũi, bây giờ không thấy ai quanh đây!
Những ai đă bị kéo lên tàu Thái như Duy để bị vùi vập trả thù? Bao nhiêu người đă vĩnh viễn vùi thân xác trong ḷng biển lạnh đêm nay và có c̣n ai đang bơi thoát lũ dă thú mặt người Thái Lan?
Tôi bơi ṿng quanh mũi tàu, đập vào vỏ tàu làm hiệu gọi thử, rồi áp tai vào lắng nghe động tịnh, nhưng hoài công, chỉ c̣n tiếng sóng biển vỗ đ́ đùng đáp trả.
Biết chẳng mong ǵ c̣n thấy được Duy, nhưng tôi cũng ngoái trở lại, nh́n thăm chừng nơi hướng chia tay với Duy. Duy đă bơi mất khuất đâu đó trong bóng đêm và sóng biển. Tôi có lo lắng nhưng tin ở Duy với sức trai trẻ rất nhiều hy vọng thoát hiểm và sống sót. Tấm ván chỉ đũ để giữ cho một người không bị ch́m khi không c̣n sức bơi, nên tôi không thể bám theo Duy. Thà tách ra, biết đâu sống sót được một người.

Ván tàu bể vụn bây giờ trôi tản mạn đâu hết. Không thấy bóng dáng người nào sống sót và cũng không t́m được vật ǵ làm phao. Không thể nào cứ bơi người không quanh quẫn trên biển cả như thế này được. Tôi dựa người vào mũi tàu để tránh bớt sóng và dưỡng sức. Khi dừng bơi, cơ thể chừng như hiểu lầm là đến lúc nghỉ ngơi, ră rời mệt mỏi. Tôi biết sức ḿnh đă cạn. Không ván không phao th́ không thể giữ người trên sóng biển được măi. Chợt nhớ tới cái nấp hầm mũi, ngó lên thấy nó vẫn c̣n đậy trên miệng hầm. Mừng lắm, tôi nghỉ cách lấy nó xuống làm phao. Chờ có đợt sóng đưa lên cao, tôi vói tay ráng phóng người leo lên mũi tàu. Trật vuột một lúc, rồi may mắn sao tôi bám được vành nấp. Cái nấp hầm chừng một mét vuông, b́nh thường đứng dỡ lên đậy xuống, để lấy neo, cất neo và vật dụng dễ dàng. Bây giờ, sóng biển lắc lư , nấp nầm dốc ngiêng nghiêng, chân đứng bám trơn trợt, lại thêm đuối sức và chấn động mạnh làm miệng hầm bung vẹo làm nấp bị kẹt dính, tôi đeo lên kéo lắc măi nó không nhúc nhích. Có ánh đèn pha quét tới, tôi buông tay cho người tuột chuồi xuống biển nằm yên chờ đèn qua và tính cách khác.
Mũi tàu chỉ xuống qua cạnh nấp hầm chừng một mét là hết, bên dưới là khoảng trống của khoang tàu. Mực sóng đang nằm khoảng giữa. Cái neo to bị chùi lọt xuống biển, như vậy bên trong hầm mũi đă trống thoáng, không c̣n sót chướng ngại vật, tôi nghỉ là an toàn để chui vào bên trong mủi tàu. Tḥng một tay xuống ḍ t́m, tôi nắm giữ mép ván của mũi tàu lấy thế, chờ sóng rút xuống cho khoảng cách ngắn lại, tôi rút người xuống chui lẹ vào bên trong. Tay vẫn giữ hờ mép ván mũi để có thế rút người chui ngược trở ra, tôi dùng tay c̣n lại và chân quơ ḍ cho chắc là trống và an toàn mới buông tay ra. Bên trong tối đen, nặng mùi dầu cặn, nhưng thở được. Chỉ thấy chạm vài vật nhỏ lỉnh kỉnh, không c̣n sót người nào, thi thể ai hay vật ǵ lớn bên trong. Quen thuộc lườn tàu, tôi bám theo đà của khoang để leo lên. Khi ngang với nắp hầm, tôi xoay lại lấy chân đạp nhóng các cạnh, cho nấp bung lỏng ra đôi chút. Căm thấy cái nấp di động có vẻ nhẹ, tôi ngưng. Sợ lở chân, đạp nấp văng hẳn xuống biển, sóng đưa đi mất, khi chui ra được không biết đâu để t́m, lại hoài công và tiếc lắm. Biết đâu, đây là tấm ván lớn sau cùng c̣n sót lại!
Trở ra bên ngoài, tôi chờ sóng để phóng lên bám vào nấp. Lần này, chỉ cần chịu chân lên mũi tàu, hai tay tôi kéo thử, nấp bung nhốm ra ngay. Giữ nấp, tôi ghịt mạnh một lần nửa, cái nấp và tôi cùng nhau rớt chùi xuống biển.
Không c̣n t́m được ai, bám theo tấm ván lớn dễ bị lộ dạng, tôi bơi đi ngay. Không biết bơi đến đâu, trước mắt phải tránh xa hai chiếc tàu của tụi cướp biển.

Có lẻ đang bơi cùng chiều với sóng biển, không mấy chốc, tôi thấy ḿnh đă cách xa vùng ánh sáng của đèn pha. Bây giờ, quanh tôi là sóng biển và bóng đêm. Nằm thấp trên mặt nước, hết thấy được ánh chớp của ngọn đèn đỏ trên đất Mă Lai, nhưng tôi biết chắc nó đang nằm ngay phía sau ánh đèn của hai chiếc tàu Thái Lan đang chạy quần quanh chỗ tàu ch́m. Như vậy, càng lúc sóng càng đưa tôi xa về hướng đông nam. Cái địa bàn đeo trên ngực đă bị văng mất khi thân thể bị tung lên cao hay lúc ch́m xuống biển, tôi không biết. Tiếc vật kỹ niệm gần gũi bấy lâu nay, chớ phướng hướng và sinh mạng bây giờ do đất trời cùng biển cả định đoạt. Nhớ lại cái đồng hồ, mớí hay nó bị vuột khỏi tay tự hồi nào. Giờ này, chắc khoảng mười hai giờ đêm, tôi đă bơi trong biển chắc cũng được hai giờ rồi. Bám vào cái nấp hầm như thế này, tôi không biết ḿnh c̣n bơi thêm đuợc bao lâu nửa.

Đêm tối, biển cả mênh mông, sóng nước trùng trùng.
Nước biển trở nên khá lạnh, tôi không rơ ḿnh đang bị sóng đưa xa ra vùng biển ngoài khơi hay v́ cơ thể đă sắp kiệt sức. Bản năng sinh tồn thúc dục tôi bơi, cứ bơi, dù biết rằng sức ḿnh không làm sao cưởng lại được sóng gió của đại dương. Tôi tự an ủi ḿnh đă gặp may mắn, sóng không đẩy tôi ngược về hướng bọn cướp biển. Thà bị vùi thây trong ḷng đại dương, c̣n hơn phải chết trên tàu của bọn dă thú Thái Lan.
Khi vượt trốn loài cộng phỉ, thuyền nhân Việt Nam đă chấp nhận hy sinh tính mạng của ḿnh. Chúng tôi đă thoát ra hải phận quốc tế, đă thấy được ánh sáng từ đất liền và chúng tôi sắp được đặt chân lên lảnh thổ quốc gia Mă Lai, như hàng triệu người t́m đường vượt thoát ngục tù cộng sản vẫn mơ ước. Mọi người đă làm hết sức ḿnh cho con tàu, đă chọn con đường liều thân, bất khuất trước bạo tàn, đấu tranh cho đến hơi thở sau cùng.
Tôi chậm răi bơi, ḷng thanh thản măn nguyện, sẵn sàng chờ lúc thoát khỏi xác thân. Ngước nh́n triệu v́ sao trên bầu trời, đâu đó là anh linh của những thuyền nhân 3392 đang sáng lấp lánh, tôi thấy ḿnh t́m lại được an b́nh trong tâm hồn. Trên cao ấy là nơi tôi sẽ được gặp lại các chiến hữu và thuyền nhân thân yêu của tôi. Rồi đây, tôi sẽ được cùng hồn thiêng đồng bào tôi, bay trở về trừng trị loài cộng sản phi nhân, cho quê hương tôi sạch loài quỉ đỏ.

- Cứu tôi với!

Nghe phía sau lưng như có tiếng người la thất thanh, tôi dừng bơi, lên tiếng hỏi nhưng không nghe ai đáp lại và nh́n quanh cũng chẳng thấy ai.
Từ khi ôm tấm nấp hầm mũi bơi đi, chốc chốc nghe tiếng kêu gào rồi yên lặng. Tôi gọi lại, lần nào cũng chỉ nghe tiếng sóng tiếng gió đáp lời. V́ thiếu ngủ, mỏi mệt, nên tâm thần đang lơ mơ trong mộng, hay bị ám ảnh bởi tiếng kêu gào của đồng bào tôi, hay ai đang bơi đâu đó kêu la rồi kệt lực tàn hơi, nhưng nh́n quanh tôi chỉ thấy bóng đen của đêm tối.
Thấy lạnh trên lưng, vịn mép ván, tôi trầm thấp người xuống biển một lúc cho ấm. Uống ca chanh đường của "chế" Hai xong th́ thấy tàu cuớp biển, không ai trên tàu c̣n bụng dạ nào nghỉ đến buổi ăn chiều nửa, bây giờ cũng không thấy đói lắm, nhưng lạnh và lạnh ít hơn khát. Ban đêm, không thấy được lúc nào có sóng to đập tới, không may hít vào nhầm lúc sóng ụp lên, nước biển chảy luồn từ mũi xuống cổ họng mặn đắng. Cứ phải ực nước biển vào mũi vào miệng, khát thêm khát.
Chợt tôi thấy ở xa xa bên phải, trên mặt nước chừng như có ánh sáng xanh v́ nước biển mặn bị dấy động mạnh. Tôi liên tưởng đến cá mập đang sục sạo t́m mồi, t́m tôi. Tính rút người nằm gọn lên tấm ván, nhưng nghỉ lại, cái nấp hầm bằng gổ này cũng chẳng che giúp được ǵ với sức mạnh của hàm răng cá mập, thà để người trống thoáng cho nó nuốt gọn, chết gọn hơn. Cầu mong sẽ là một con cá nào to, nó thanh toán tôi trong vài cái để chết cho nhanh lẹ. Hụp xuống ngâm đầu xuống biển một lúc, trồi lên, lấy tay khoác nước vuốt rửa mặt cho tỉnh táo rồi quay nh́n trở lại nơi có gợn sóng xanh lần nửa. Tôi không mơ ngủ, vệt sáng ẫn hiện vẫn c̣n đó, chốc chốc lại có ánh nước tung lên chớp sao xanh lấp lánh. Tôi ngẩm nghỉ, con cá này to chớ không nhỏ, hay là vài con đang quây quần t́m mồi. Thử đập chân bơi theo nhịp nước tung lên, tôi thấy giống như nhịp chân người ta bơi hơn. Chắc là một người nào đó đang bơi đàng trước, nghỉ là Duy đang bơi, tôi gọi lớn:
- Duy!
Không nghe trả lời, tôi thử gọi tiếp với tên Vũ, Tài, Luốc, Dân…nhớ đến tên ai trên tàu, tôi gọi hết. Trong đêm đen, tiếng tôi cứ ch́m mất trong sóng gió, không nghe ai đáp trả. Đẩy tấm ván, tôi cố gắng bơi thật nhanh lên cho gần hơn và hy vọng nhằm lúc gió xuôi chiều sẽ tiếp mang tiếng tôi đến người bơi phía trước, tôi gọi tiếp:
- Ai bơi đó?
Một cơn sóng to ụp tới, tôi bị sặc nước, lại uống thêm những ngụm nước pha muối. Vuốt mặt, vuốt mắt mũi cho bớt nước, ngó ra trước thấy mất ánh sáng xanh. Ai đó đă bị đợt sóng to hồi nảy cuốn đi hay sóng đánh xoay tấm ván làm tôi lạc hướng?
- Tính đây, ai bơi đó?
Tôi gọi thêm lần nửa, không ai trả lờ́, nh́n kiếm xung quanh cũng không c̣n thấy ǵ nửa. Cầu may, tôi gọi tiếp qua các hướng khác nhau, nhưng mất dần hy vọng.
Mất dấu người bơi đàng trước, cũng chẳng nghe ai đáp lời, tôi sinh năn ḷng, thử gọi thử thêm một lần cuối xem sao. Không rơ ḿnh bị mất tiếng hay giữa đại dương với sóng và gió tôi nghe tiếng gọi của chính ḿnh thật lạc lỏng.
- Anh Tính hả?
Chợt nghe như có tiếng gọi tên tôi, nhưng quanh ḿnh không thấy ánh nước sáng xanh hay ai bơi gần cả. Tôi nghỉ, rất có thể nhằm lúc người ấy ngưng bơi nên nghe được tiếng tôi gọi và trả lời. Tôi mừng quá, lên tiếng đáp lời ngay:
- Tính đây!
Nh́n qua hướng người gọi thấy có ánh nước đập tung lên, tôi gọi lớn:
- Ở yên đó! Chờ tôi tới!
Tôi tin là ḿnh không mơ hay bị ám ảnh, cũng không phải chuyện hoang đường, tiếng một thanh niên gọi tên tôi nghe khá rơ, tôi bơi nhanh đến. Thật vậy, chừng chục cái bơi tôi thấy bóng một người đang ôm ván đạp nước cầm chừng chờ và hỏi tôi:
- Anh Tính hả? Thành đây!
- Thành đấy à!
Tôi đáp lời và ráng nhớ xem ai là Thành. Hơn bảy chục người trên tàu, hầu hết là bà con hay thân quen với Vũ, tôi chỉ biết vài người trong gia đ́nh Vũ. Suốt ngày đêm tôi giữ cần lái trên mui, không mấy dịp thăm chuyện với ai lạ; kể cả thầy Sơn, tôi chỉ chào thầy khi thầy lên tàu. Thầy Sơn dạy môn Toán cho Vũ và tôi. Thầy chào lại, chắc chắn thầy không thể nh́n ra thằng học tṛ năm lớp sáu và lớp bảy. Mấy hôm nay, tôi chưa có thời gian để xuống thăm hỏi thầy thêm. Thầy trốn đi với hai đứa con, một trai một gái tuổi mười ba hay mười lăm chi đó. Không biết thầy và hai đứa con giờ ra sao?!
- L. G. Thành đây anh.
- May quá ḿnh c̣n gặp nhau.
Lúc này, đầu óc tôi cũng không nhớ biết L. G. Thành là ai, đành phải trả lời chung chung. Giữ khoảng cách để tránh bị sóng đùa ván làm phao trúng người khác, chúng tôi bơi đâu mặt thăm hỏi nhau, phải nói như hét để át tiếng sóng. Thấy tấm ván của Thành nhỏ, chỉ vừa cho một người, tôi đeo sang bên phải, đạp nước đẩy nấp hầm mũi gần Thành hơn, tôi gọi lớn:
- Sang đây, bơi với tôi.
Thành đồng ư, bám sang tấm nấp hầm mũi với tôi. Cùng đeo chung tấm ván, sóng lớn không tách đùa lạc nhau. Cũng c̣n tiếc tấm ván của Thành, biết đâu sẽ gặp và có người cần, chúng tôi kéo miếng ván nhỏ này chất nằm chồng lên tấm nấp hầm rồi cùng đạp nước bơi đi. Bơi giữa đại dương, gặp người đồng cảnh ngộ, không sao diễn đạt được xúc động bằng ngôn từ. Trong nỗi cô đơn và tuyệt vọng giữa đại dương bây giờ có người kề cận, niềm hy vọng le lói trong đêm đen. Thăm chuyện nhau một lúc, tôi nhớ ra , sau khi thoát ra vùng an toàn trong hải phận quốc tế, Vũ nhờ Thành thay tôi giữ lái tàu, lúc tôi xuống mui để cùng kiểm bản đồ và xác định phương hướng. Đêm tối, gặp lúc trao nhận tay lái, nói với nhau vội vă về phương hướng chốc lát. Tôi không kịp thăm hỏi tên anh, nói chi biết nhớ anh là ai. Bây giờ chúng tôi có dịp gặp lại nhau, nhắc nhở lại; khi biết nhau th́ cả hai chúng tôi đeo cùng tám ván nấp hầm mũi, giữa đại dương bao la, không biết tính mạng ḿnh và bạn sẽ ra sau.

Ánh đèn pha và đám tàu cướp Thái Lan man rợ đă mất biệt từ lâu lắm rồi. Ngoài tiếng sóng đập vào chúng tôi, không c̣n nghe ai kêu la hay gọi nhau như hồi nửa đêm. Chúng tôi khuyến khích, nhắc nhau bám chặc vào phao ráng nhớ bơi để cơ thể được ấm và không bị ngủ gục vuột tay khỏi tấm ván, sóng đánh văng đi mất. Có vài lần tôi có cảm giác như có thân ḿnh của loài sinh vật khá lớn, da trơn láng chạm vào người, nhắc nhở tôi đến cái đe doạ của loài cá mập, nghe rởn lạnh cả người.
Thành và tôi nằm nghiêng mặt trên tấn ván để tránh sóng đùa thẳng vào mũi miệng, chậm rải bơi để dưỡng sức. Người bơi cứ bơi, sóng gió mặc t́nh đưa đẩy. Xác thân và số mạng không biết trôi dạt đi nơi đâu, chuyện ǵ sắp xảy đến, bao giờ sẽ tận cùng.

Luyến nhớ, xót thương cùng uất hận chồng chất, miên man nối nhau xoay quần trong đầu. Tôi thấy nước mắt trên những khuôn mặt ngây thơ, trên lớp da sạm nắng đă hằn xếp dấu thời gian của những thuyền nhân trên tàu. Đây, vết dầu máy bôi nhoè nhoẹt bên ánh mắt kinh hoảng tuyệt vọng. Đây, trẻ con ngơ ngác ôm chặt lấy người thân khóc râm rứt. Lời cầu kinh trên bờ môi run rẩy, tiếng người kêu thét gọi t́m nhau trong tiếng sóng của đại dương… vẫn c̣n đâu đây, âm vang bên tai. Tôi thấy Mẹ tôi lau dấu nước mắt lúc nghe tin tôi trốn xuống tàu chờ dịp vượt thoát, bàn tay cằn cổi của Ba tôi đang nằm trong ḷng tay tôi khi ân cần bắt tay căn dặn lúc tạ từ.
Thương Ba Mẹ lắm! Cha mẹ già chịu đựng quá nhiều mất mát. Không chấp nhận giăng dạy cho tuổi trẻ những giáo điều xảo trá của loài cộng sản, Ba đă phải bỏ trường lớp, chấp nhận khốn khổ thà dầm ḿnh trong bùn đất ruộng nương để tạo hạt gạo trắng sạch, sống qua ngày.
Mất mát cuốn đi thêm mất mát!
Dù biết rằng khi tiễn con ra đi là đă nghe mất mát, Ba Mẹ tôi sẽ ra sao khi hay tin con đă đi không đến bến bờ Tự Do. Tôi nghe ḿnh nghẹn lời cầu xin Ba Mẹ tha lổi cho đứa con đă không c̣n dịp chăm sóc, mang an b́nh cùng niềm vui đến với mẹ cha khi trọng tuổi.

Càng về khuya sức người càng mệt mỏi. Tiếc tấm ván của Thành, ráng mang nó theo xem có gặp ai cần ván làm phao sẽ giúp. Giữ tấm ván cho nó nằm bên trên cái nấp hầm, càng lúc cảm thấy vướng víu quá, mỗi lần sóng đánh tới cả hai phải mất thêm sức kềm cho nó đừng bị văng xuống biển hay chạy vào đập trúng mặt mũi. Chúng tôi bàn với nhau, đến lúc này chắc không c̣n hy vọng ǵ gặp thêm được ai nữa, đành phải bỏ bớt miếng ván dư này. Thành nới tay cho tôi kéo nó sang một bên, đẩy tấm ván xuống biển và chỉ vài đợt sóng nó bị cuốn đi mất biệt. Nhớ thương chiếc tàu, tiếc tấm ván như một phần thân thể, nhưng sức cả hai đă mỏi mệt.
C̣n lại cái nấp hầm hai người bám giữ dễ dàng hơn, đở mỏi tay và mất sức hơn nhiều. Sóng đưa Thành và tôi lao chao trên biển, chốc chốc ụp nước trên mặt mũi, mỗi lần nói phải lấy hơi la lớn tiếng, lại thêm mỏi mệt nên cả hai dần dà lười nói chuyện với nhau. Nảy giờ, cũng lâu rồi chúng tôi yên lặng với những suy tư riêng, lắng nghe người bên cạnh c̣n bơi là yên tâm rồi. Coi như đêm nay là đêm thứ tư tôi không được ngủ, cộng thêm một đêm nằm trằn trọc chờ sáng trước ngày đi. H́nh như lo lắng làm chúng tôi quên đói, nhưng cái lạnh, khát và buồn ngủ xô đẩy nhau, xoay quanh trong đầu. Sóng đánh tới tỉnh ngủ lại nhớ tới khát, rồi lạnh. Càng về khuya sóng và gió càng lạnh. Người ta nói khi phải đối đầu với cái chết con người trở nên dũng mảnh hơn, chiến đấu để sống c̣n. Tôi không tin tôi có được cái sức mạnh vùng dậy đó, chính Ơn Trên đă ban cho tôi may mắn cùng nghị lực để c̣n sống đến giây phút này.

Yên lặng một lúc, đầu óc lơ mơ mắt cứ muốn sụp xuống, không có sóng chắc tôi gục ngủ dễ dàng. Thành cũng yên lặng uể oải bơi. Tôi ráng đạp nước bơi mạnh lên và kiếm chuyện nói với Thành cho cả hai cùng tỉnh ngủ, quên chuyện lo buồn riêng tư. Tôi lớn tiếng gọi Thành, giọng lạc quan vui vẻ để đánh lừa tâm thần của ḿnh:
- Gần sáng rồi Thành!
Thành quay sang tiếp chuyện:
- Không biết mấy giờ rồi?
Trăng đầu mùa, hồi tối đầy thêm được gần một phần tư. Nh́n bầu trời tối đen, trăng đă lặn mất, tôi ước lượng với đêm hôm qua cộng thêm một giờ:
- Chắc gần ba giờ sáng rồi.
- Chừng nào có mặt trời?
- Cở hôm qua, sáu giờ…Ráng bơi, Thành!
Miệng bảo nhau ráng bơi, đầu óc nghỉ tới ba tiếng đồng hồ nửa mới sáng ḷng se thắt lại, hai anh em yên lặng trở về với lo âu. Phải bơi thêm ít nhất ba tiếng đồng hồ mới có mặt trời, coi như cả nửa ngày trời trong biển nước, có ngắn đâu!
Bơi được một lúc, chợt nhớ ra chu kỳ này mỗi ngày mặt trời sẽ mọc sớm hơn một phút, tôi mừng rỡ xoay qua nói với Thành:
- Hôm nay mặt trời sẽ mọc sớm hơn…!
- Đở quá hả… May cho tụi ḿnh!
Thành có vẻ vui hơn, nói thêm:
- Với lại …tàu đánh cá đi biển sớm lắm mà?
- Đúng vậy! họ không đợi mặt trời.
- Hy vọng gặp tàu sớm hơn!
Vài mươi phút nằm ngủ nướng, có khi chẳng thấy thấm vào đâu, nhưng một phút cho người kiệt sức trên biển nó lâu thật lâu, lâu vô cùng. Sớm được một phút mừng vô cùng!

Đêm lênh đênh bơi trong sóng nước với mong ước và lo âu làm đêm càng dài ra chừng như bất tận. Cả đêm, ngước nh́n thăm chừng bầu trời cứ thấy đen thâm thẩm. Bây giờ, những v́ sao có vẻ giăm bớt ánh lấp lánh, nh́n kỹ tôi thấy bầu trời không c̣n màu đen đậm đặc của ban đêm, đang ửng chút ánh xanh lam.
- Trời sắp sáng!
Tôi nói với Thành. Nghỉ đến lúc trời sáng, có tàu đánh cá chúng tôi nghe niềm vui reo trong ḷng, bên nỗi hồi hộp lo âu. Tôi vọt miệng nói thêm, như nói với chính ḿnh:
- Hy vọng không gặp tàu Thái Lan.
Không lẻ sui tận mạng đến thế !? Chiều tối hôm qua gặp tàu cướp, sáng mai này lại gặp tàu cướp nửa sao ?! Nghỉ vớ vẫn rồi thôi, đành phó thác mạng ḿnh cho đấng tối cao, cho trời, cho biển. Mỗi lúc sóng đưa lên cao, chúng tôi ngóng cổ kiếm xem có ánh đèn của chiếc tàu chưa.
Từ khi thấy bầu trời bớt tối, bóng đêm tan biến mỗi lúc một nhanh hơn. Năm mười phút ngó lên trời thăm chừng là thấy ngay sự khác biệt. Không bao lâu sau, dưới chân trời có ánh sáng của ban ngày.
Qua một đêm dài bơi trên biển, thấy được ánh b́nh minh, thấy niềm hy vọng. Dù đă sáng, chưa thấy bóng dáng chiếc tàu nào và chưa biết sống c̣n ra sao, nhưng ánh mặt trời đă mang lại hơi ấm cho cơ thể, xua tan nỗi âu lo rất nhiều.
Chúng tôi c̣n sống!
Thành và tôi vui mừng khi được thấy ánh mặt trời.
Mấy hôm nay, chúng tôi đă được sống qua những ngày có ánh sáng của Tự Do.
Đây, một ngày mớí!
Có phải đây là một ngày c̣n được sống và được làm người Tự Do ?!
Tuy rằng c̣n phải bơi trong sóng nước, chưa đến bến bờ, nhưng ước mơ thoát khỏi kềm kẹp của bọn cộng phỉ đă là sự thật. Triệu v́ sao lấp lánh theo hộ độ chúng tôi suốt đêm hôm qua đă yên nghỉ trong ánh sáng ban mai. Triệu anh linh của đống bào tôi vẫn c̣n đó! Tôi không thể quên đồng bào tôi đă v́ hai chữ Tự Do, hiến dâng thân xác ḿnh và niềm đau tử biệt c̣n đó măi măi trong gia đ́nh thân quyến.
Một ngày làm người Tự Do đă quá đũ, như ước mơ!

Mặt trời lên nhanh, quay đi, ngoảnh lại đă thấy ló dạng lên bên trên mặt sóng. Ánh vàng cam rực rỡ nhưng hảy c̣n dịu mát để nh́n.
B́nh minh trên biển đông thật đẹp, đẹp tuyệt vời!
Tôi thấy cay ấm trong đôi mắt.
Bao giờ đêm đen của loài quỉ đỏ đang phủ trùm trên quê hương tôi sẽ tàn lụi, để đồng bào tôi có được niềm vui thấy lại ánh sáng của hy vọng và tự do như tôi được thấy hôm nay ?!
Xin cám ơn Ơn Trên, tôi đă được ban cho quá nhiều ơn phước. Nếu hôm nay tôi phải bay theo anh linh của đồng bào tôi, tôi đă rất măn nguyện.

- Anh Tính, sao ḿnh không thấy chiếc tàu nào hết ?!
Thành lo âu, tôi cũng không biết tại sao:
- Lạ thật, không một chiếc tàu, không ai đi đánh cá vùng này !
Trời sáng cũng khá lâu rồi, bây giớ chắc cũng phải tám chín giờ sáng. Tia nắng chói chang, gió mang đầy ngập hơi nóng của mặt trời. Từ lúc thấy ánh sáng ban ngày, có hơn bốn tiếng đồng hồ rồi. Ngóng trông nhưng chưa thấy được bóng dáng một chiếc tàu. Không thấy tàu buôn, cũng chẳng thấy tàu đánh cá lớn nhỏ nào cả. Ḿnh không thấy tàu, mong ǵ người trên tàu thấy hai sinh vật nhỏ nhoi đeo bên tấm ván đen mốc trong sóng đại dương; cái nấp hầm mũi chỉ một mét vuông này như miếng rác nhỏ trên mặt sông. Tôi phân vân, không rơ ḿnh đang ở xa ngoài khơi, hay trong vùng biển đảo hoang vắng?
Nằm trong nước không nhận định được rơ lắm, nhưng chừng nửa giờ rồi, có lúc tôi thấy luồng nước biển h́nh như hơi xám đục. Đợt sóng mới đùa vào thỉnh thoảng có vài măng rong biển. Tôi chụp giữ được một cọng rong biển nhỏ, đưa cho Thành xem:
- Nước đục, có rong biển như vậy ḿnh đang ở vùng biển cạn, hay đang được sóng đưa vào gần bờ.
- Gần bờ mà hơn nửa buổi sáng rồi sao ḿnh không thấy tàu.
- Không lẻ đây là vùng hoang đảo?!
Tôi ngẩm nghỉ:
- Hoang đảo cũng có cách sống, cầu sao vô tới bờ biển.
- Sáng trắng rồi mà không thấy tàu đánh cá, làm sao ḿnh bơi thêm một đêm nửa cho nổi!
Thành lo âu rất đúng!
Chúng tôi bơi cầm chừng, chủ đích ngóng nh́n chung quanh, nhưng tàu thuyền vắng lặng một cách khó hiểu. Mặt trời lên cao, nắng và gió nóng hực, trong ḷng thêm bồn chồn thắc mắc. Từ sáng đến giờ không thấy tàu qua lại, càng về trưa chiều càng ít hy vọng gặp người cứu vớt hơn. Tôi nh́n cọng rong biển cầm giữ trong tay, nó gợi nhắc màu cây cỏ trên đất liền, ḷng bồi hổi trông mong.
Đợt sóng cuộn tới mang theo thêm một mảng rong khác. Xa xa ngoài trước có vật ǵ màu cam nhấp nhô trên sóng. Chúng tôi ṭ ṃ bảo nhau bơi nhanh đến xem. Không phải một, mà có chừng chục cái như thế phía trước, cái nào cũng cũ kỹ, nhiều màu trắng, vàng xanh lẫn lộn, rải rác trên mặt biển. Th́ ra đây là những cái phao cột theo hàng lưới để làm dấu. Có lưới, hy vọng có tàu đánh cá hoạt động quanh đây.
Chắc họ sẽ đến thăm lưới!
Chúng tôi ráng bám giữ vào các phao này, không cho sóng cuốn đi nơi khác. Nằm tại đây, có nhiều hy vọng gặp tàu đánh cá chạy trong khu vực này hơn.
Đoán theo cở lưới cá, tôi bàn với Thành:
- Ḿnh không phải lo gặp cướp biển Thái Lan. Tàu đánh cá vùng này là tàu nhỏ, họ đi gần, chắc chắc là dân địa phương của Mă Lai. Nhưng tàu nhỏ thấp trên mặt biển, th́ ḿnh khó thấy nó, người đánh cá không nh́n thấy rơ giữa các đợt sóng, khó thầy tụi ḿnh lắm. Ráng nh́n kiếm tàu và làm cho họ thấy ḿnh.
Đúng như chúng tôi suy đoán, chừng nửa giờ sau có một chiếc tàu đánh cá chạy ngang. Nhưng nó chạy cách xa quá, chúng tôi ráng vẩy tay kêu gọi cầu may. Nh́n chiếc tàu từ từ mất dạng trên biển, chúng tôi tiếc lắm, vừa hy vọng gặp thêm chiếc khác, vừa phân vân lo âu, biết đâu chỉ có một chiếc duy nhất.
May thay, chừng mười phút sau, có hai vệt khói gần nhau ngang bên phải của tôi. Chúng tôi quay tấm ván lại hồi hộp trông ngóng. Vài đợt sóng đưa lên cao, đă thấy được h́nh dạng chiếc tàu đánh cá. Qua một đêm dài bơi trên biển, tưởng đă chết, bây giờ gặp tàu làm sao không vui và không lo tàu không thấy ḿnh. Tuy tàu c̣n từ đàng xa, chúng tôi đă liên tục vẩy tay làm hiệu. Biết rằng tiếng người trên biển chẳng vang đi đưọc bao xa, cả hai vẫn ráng hết sức lực la gọi thật lớn. Ḿnh la gọi mà chính ḿnh cũng không nghe được âm vang của ḿnh bao nhiêu.
Tàu chạy gần hơn chiếc vừa rồi, thật gần. Hai chiếc nối nhau chạy ngang, ngay trước mặt chúng tôi. Mặc t́nh chúng tôi ra hiệu và kêu gọi, không ai thấy chúng tôi, hai chiếc tàu cứ thản nhiên lướt qua, kéo mất đi niềm hy vọng của hai kẻ trôi dạt giữa ađ5i dương mênh mông.
Hai chiếc tàu xa dần, Thành và tôi mệt quá, buông xuôi không gọi kêu nửa. Nh́n theo hai vệt khói trên mặt sóng đang tang loảng trong gió, chúng tôi thẩn thờ thất vọng. Hai chiếc tàu thật gần, thấy đó rồi phút chốc biến mất, tường chừng như trong giấc mơ.

Biển chỉ c̣n tiếng sóng và sóng mênh mông, không bóng dáng tàu thuyền.
Tiếc hai chiếc tàu măi!
Tôi ngẫm nghỉ, tàu tuy nhỏ, nhưng mỗi tàu phải có ít nhất hai người và cả hai tàu chạy thật gần như thế, thế mà mà không một ai thấy chúng tôi. Tiếc lắm! Biết c̣n dịp gặp được tàu chạy gần như thế không?! Tôi nh́n mấy cái phao trên lưới đă quá cũ kỹ, đâm ra nghi ngại rằng đám lưới này đă bị bỏ hoang cho nên ba chiếc tàu chạy qua luôn, không thèm lưu tâm ghé vào. Phân vân, muốn rời nơi này bơi đi nơi khác có cơ may hơn, nhưng chẳng biết sẽ trôi đến đâu, may rủi ra sao, đành nán lại và cầu mong gặp may mắn.
Quay mặt nh́n về hướng đă thấy tàu chạy tới, Thành và tôi nằm trên nấp hầm nghỉ mệt mắt trông ngóng tàu. Hai đợt tàu đều xuất phát từ hướng này, chắc là bến nhà của họ cũng từ đâu đấy. Mong sao có thêm tàu đến và họ sẽ thấy chúng tôi.
Nằm trông đón tàu được một lúc, bổng nghe như có tiếng máy tàu văng vẳng trong tiếng sóng, chúng tôi ngóng lên chờ h́nh dạng chiếc tàu xuất hiện. Ít phút sau tiếng tàu chạy nghe thật rơ, nhưng lại nghe từ hướng sau lưng, Thành và tôi ngạc nhiên cùng quay lại. Chúng tôi không dám tin mắt ḿnh, tưởng như ḿnh đang chứng kiến phép lạ. Như thuở nhỏ đi xem phim Mười Điều Răn, đám nhóc con chúng tôi trố đôi mắt, ngẩn người nh́n Chúa làm phép lạ, nước biển tách dạt qua hai bên cho Moses hướng dẫn đoàn người di tản Do Thái đi trên đáy biển, vượt qua đại dương.
Vâng, Thành và tôi cũng là hai người nằm trong đoàn Exodus đầy thương tâm, của người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Hai trong triệu người Việt Nam liều ḿnh vượt thoát móng vuốt của loài quỉ đỏ để t́m miền đất hứa, t́m đến bến bờ của đất nước Tự Do. Giờ đây, chúng tôi cũng đang ngẫn người chứng kiến phép lạ của Thượng Đế, ngay trên đại dương!
Chúng tôi ngạc nhiên và vui mừng đến sững sờ, nghẹn cả lời; quên mất phải ra hiệu hay kêu gọi tàu như những lần trước. Chừng tỉnh nhớ lại, thấy rằng vẫy gọi không c̣n là điều cần thiết nửa. Ngay trước mắt chúng tôi, hai chiếc tàu đánh cá hồi nảy đă quay trở lại hồi nào không hay.
Không biết tại sao họ quay lại! Tàu vô t́nh chạy vể ngang thấy; hay đă thấy chúng tôi từ lúc nảy nhưng không muốn vướng bận, định bỏ qua cho xong, rồi không nở ḷng, nên quay trở lại cứu chúng tôi ?
Cho dù lư do nào, những người đánh cá Mă Lai đă thấy và đang đến vớt chúng tôi. Động cơ thật thấp, họ để tàu theo trớn chạy thật chậm đến sát bên chúng tôi, cũng v́ thế chúng tôi đă không nghe tiếng động cơ rơ lắm. Mấy người đánh cá lam lũ, đang đứng bên thành tàu nh́n chúng tôi với ánh mắt xót thương lo lắng.
Đây là những thiên sứ mà chúng tôi đă cầu mong.
Cám ơn Ơn Trên đă ban phép lạ!
Chúng tôi bắt tay từ giả nhau, sẵn tàu gần kế bên nên Thành lên tàu trước. Chiếc thứ nhất vớt Thành lên xong, tách ra cho chiếc sau chạy tới gần tôi.
Tiếng máy dầu cặn gợi nhắc nhiều xót đau, tôi xót đau nh́n xuống tấm nấp hầm mũi, không ngăn được nước mắt. Đây, phần h́nh hài sót lại của chiếc tàu thân yêu. Tôi ôm tấm ván, vỗ về lưu luyến trước khi buông rời nó, để bơi sang chiếc tàu đang chờ vớt tôi.
Tàu đánh cá nhỏ, chiều dài chừng phân nửa chiếc 3392, kiểu tương tự như các tàu đánh cá ven biển ở Việt Nam. Nơi tôi vịn tay là chỗ thấp nhất của sàn tàu, nó chỉ cách mặt biển hơn gang tay một chút. Trước đây, phấn đuôi của chiếc 3392 cao gắp ba lần, anh em trên tàu phóng xuống leo lên dễ dàng; bây giờ chỉ có chừng này tôi đă ráng hết sức vẫn không nhóng người lên được bao xa. Thấy vậy, hai người đánh cá khom xuống kéo tôi leo lên sàn tàu.
Chiếc tàu cứu tôi xong, cũng nối theo chiếc chở Thành chạy đi.
Tôi ngoái nh́n tấm nấp hầm mũi của chiếc 3392. Nó nhỏ nhoi đơn độc trên mặt biển quá và phút chốc nó đă bị khuất mất phía sau.
Vĩnh biệt 3392!
Tôi không bao giờ quên chiếc tàu yêu quư đă hy sinh thân mạng đưa chúng tôi vượt đại dương t́m Tự Do.

Tàu chạy, gió lùa trên da để trần nghe ớn lạnh, tôi ngồi co ro trên phần đuôi tàu. Tàu chỉ có hai người, chắc là hai cha con. Người cha đang lái tàu bên trong pḥng lái. Anh chàng thanh niên Mă Lai bằng hoặc lớn tuổi hơn tôi, đứng dựa vào mui tàu, gần tôi.
Tôi lên tiếng:
- Thanh you again!
- Ok! Ok!
Anh ta cười, khoát tay, ư như không có ǵ đáng quan tâm.
Cả hai chúng tôi đều không nói được tiếng Anh nhiều. Biết tôi đói và khát, anh chỉ ra biển, xoay xoay bàn tay ra hiệu và nói với tôi:
- Go fishing, go home… same day…. No food !
Tôi cười cho anh an tâm:
- That's OK!
Có tiếng người cha gọi, họ nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ địa phương. Người con trai trả lời và nhanh lẹ khom người chui vào trong mui. Vài phút sau, anh trở ra với cái hộp nhôm nhỏ trên tay. Lật ngữa bàn tay, anh ta vui vẻ ra dấu cho tôi:
- Hand!
Tôi hiểu ư, làm theo.
Ngó xem hướng gió, anh xoay người ngồi xuống để lưng và tay che gió, tay kia cẫn thận múc đổ vào ḷng tay tôi hai muổng đường trắng. Chắc người cha nghe chuyện, bảo anh ta vào lấy đường cho tôi.
- Thank you very much.
Tôi cám ơn anh và cho hết nhúm đường trong ḷng bàn tay vào miệng. Đường tan, nghe chất ngọt đê mê thấm trong vị giác.

Thật may mắn, hôm nay tôi được gặp lại con người . Người đối với người bằng nghĩa t́nh con người, thật ngọt ngào, dù khác ngôn ngữ, chủng tộc. Không như loài cộng sản, chúng đă mất hết nhân tính; chúng nó dă man với những người mà chúng vẫn ngon ngọt ca tụng là "đồng bào". Ngay cả nước mắt của cha mẹ, khóc thương khi lặn lội đến nhận xác con trong ngục tù của chúng, cũng bị loài cộng sản cấm đoán.

Cất hộp đướng, anh trở ra trao cho tôi ly nước. Nước vó vị lờ lợ, chắc là nước giếng, không thể sánh bắng nước mưa trên quê hương, nhưng bây giờ gịng nước ngọt mát ngon thật ngon. Cái ly nhỏ, không chứa được bao nhiêu nước, tôi uống chậm chậm cho nó chậm hết nước. C̣n khát lắm, tôi nghỉ chừng chục ly như thế tôi uống cũng hết, nhưng ráng nhịn chịu. Thiếu nước lâu, uống nhiều quá một lúc cũng không nên, và tôi tránh mở miệng hỏi xin. Tôi nghỉ, ḿnh c̣n sống và được cứu vớt như thế này là quá ơn phước rồi.

Cảm thấy có ai đang vỗ vào người, lắc kéo vai ḿnh. Trí óc chưa hồi tỉnh, hơi nóng cùng ánh sáng trắng xoá bất chợt bừng chói lên mặt. Tôi mở mắt ra thấy bầu trời nắng chói chang. Tâm thần mê mệt, tôi tưởng ḿnh c̣n nằm ngủ trên băng ghế trên mui tàu, ngó lên chỉ thấy mật trời, không thấy cái mái che bên trên băng ghế, tôi hốt hoảng la lên:
- Vũ! cái mái che bay mất rồi!
Băng ghế lái tàu cũng là chỗ ngủ của tôi; nó rất hẹp, chỉ vừa bề ngang cái lưng của tôi. Theo thói quen, tôi lấy tay ṃ t́m cạnh băng ghế, xem nó ở đâu, trước khi ngồi dậy để không bị lọt xuống sàn mui. Không t́m thấy cái cạnh băng ghế đâu cả, càng thêm kinh hoàng, ….

- Hello!
Nghe có ai đó gọi la lớn tiếng, tôi quay mặt sang ngó, thấy bóng dáng một người to lớn đứng gần bên tôi. Tỉnh hẳn ra ngay, tôi nh́n lại, thấy ḿnh đang nằm trên sàn tàu đánh cá và trên người đang đấp tấm bạt nhựa màu đen.
Ráng ôn lại trong trí, nhưng tôi không thể nào nhớ biết chuyện ǵ xảy ra sau khi uống xong ly nước. Không biết ḿnh đă kiệt lực, gục xuống hồi nào? Ai đó trên tàu đă đấp che cho tôi?
Người đàn ông mặc áo sơ-mi trắng, tay c̣n đang kéo dở tấm bạt đấp trên người tôi ra. Thấy tôi đă tỉnh dậy và quay sang nh́n, ông ta buông tay thả tấm bạt xuống, chỉ vào người ḿnh giới thiệu:
- I'm… police. Go with me!
Ngồi bật dậy, tôi kéo tấm bạt đen qua một bên, chợt nghe rát đau trên đầu gối. Một măng da mới kéo mặt bị dính theo tấm bạt, lột phăng đi, bầy ra lớp thịt bên trong đang rướm máu. Th́ ra lúc tránh né tàu Thai Lan, tôi quỳ gối chịu lên sàn để đẩy kéo cần lái cho mạnh và nhanh; sàn tàu tráng nhựa đường nhám sần sùi đă chà lột lớp da trên hai đầu gối. Đêm hôm qua bơi, cữ động liên tục và lắm chuyện trong tâm trí, nên chẳng hay biết. Vết thương bị ngâm trong nước biển từ tối hôm qua bị lở loét bầy nhầy. Nằm ngủ yên một lúc lâu, vết thương lành bớt, khi co chân ngồi dậy lớp da mới ở đầu gối căng rách ra, thấy đau rát.
Tôi nh́n trong mui, có ư t́m hai cha con người đánh cá Mă Lai để cám ơn và từ giả, nhưng không thấy. Hai vị ân nhân chắc đâu đó trong nhóm dân làng, bên dưới bóng mát của cḥm cây trên bờ biển
- Go with me!
Người cành sát lên tiếng nhắc và quay lưng đi lên bờ.
Không biết nói sao, tôi tuột xuống tàu, đi theo.

Một khung cảnh xa lạ mở ra trước mắt. Băi biển vắng, nhà dân thưa thớt. Một làng đánh cá có vẻ nghèo, nhưng an b́nh và t́nh người thật cao cả.
Đây, Mă Lai!.
Đây, bến bờ Tự Do của triệu giấc mơ!
Bước lên bờ, tôi thấy Thành đang đứng nói chuyện với người cảnh sát. Thành cũng mừng khi được gặp lại nhau, bước nhanh lại thăm hỏi. Thành nói cho tôi biết:
- Ông ấy là cảnh sát, nói là ḿnh đi về cơ quan để phỏng vấn.
Rất may, Thành và cảnh sát viên người Mă Lai này nói cùng loại tiếng Hoa. Bây giờ Thành làm người thông dịch cho tôi và cảnh sát viên Mă Lai. Thấy ông ta nh́n chờ, tôi nói với Thành:
- Đi Thành, tụi ḿnh vừa đi vừa nói chuyện thêm, chắc ông ta đang chờ ḿnh.

Lúc được vớt lên khoảng mười một giờ.
Giờ này, mặt trời đă xuống khá thấp, chắc khoảng ba giờ chiều. như vậy tôi được ngủ một giấc gần bốn tiếng đồng hồ.
Cát trên bờ biển c̣n nóng bỏng dưới ḷng bàn chân. Ánh nắng phía sau, rọi rát trên da lưng, nhưng tôi cũng nghe nóng bỏng trên ngực. Ngó xuống, tôi mới hay nguyên mảng ngực và bụng của tôi đầy những vết thâm đỏ. Nhớ lại cái căm giác trơn láng chạm vào người lúc bơi hồi tối hôm qua, tôi biết ḿnh bị chất độc của con sứa lửa làm phỏng da. Thấy ngực ḿnh bị phỏng, tôi lại nhớ đến Vũ cùng thân quyến của thằng bạn, những thuyền nhân trên tàu, nhớ hai đứa con của anh Ba. Tôi lầm lũi dươc đi, đầu óc suy đoán đũ điều càng thêm lo âu và buồn, rồi cũng rối rấm mù mịt tin tức.
- Anh Tính! quẹo vô đây!
Thành gọi tôi.
Ngó lại thấy cành sát viên đang tẻ vào hướng một căn nhà, trông giống cái quán ăn nhỏ nằm gần bên lối đi. Chắc chắn không phải sở cảnh sát, không lẻ họ hẹn nhau ở quán để phỏng vấn. Tôi thắc mắc, nhưng chẳng buồn hỏi han thêm, cứ đi theo.

Đây là cái quán ăn. Quán nhỏ, chỉ có sáu cái bàn gỗ cũ kỹ, bán cho dân lao động, nằm gần bên lối đi lên khu phố.
C̣n mỏi mệt lắm, thấy cho ngồi, chúng tôi ngồi ngay cái bàn sát cửa. Quán vắng, chỉ có hai người ngồi uống nước bên trong, gần quày tính tiền. Họ có vẻ quen biết người cảnh sát, vui vẻ chào hỏi khi ông ta đi ngang qua. Cảnh sát viên Mă nói chuyện với người bán hàng, lấy tiền trả, trở lại bàn chúng tôi, ông ấy đưa cho Thành và tôi mỗi người một hộp thuốc lá nhỏ, loại mười điếu, với bao diêm quẹt, rồi đi đến ngồi chung bàn với hai người địa phương.
Thành mở hộp thuốc lá:
- Ông ấy bảo, ḿnh chờ thức ăn một chút.
Ít phút sau, người trong quán mang đến bàn hai tách trà sửa. Khói quyện hương thơm của trà thật quyến rũ. Đói, khát, thèm nhớ món ăn thức uống lắm. Hơi thuốc đầu tiên trong ngày hoà cùng hương vị của tách trà sửa béo ngọt lúc này, thật đê mê.
Hút chưa hết điếu thuốc, thức ăn đă mang đến. Bốn con cá dẹp nhỏ, khiêm tốn bên trên dĩa cơm. Đang đói, thấy thức ăn bụng dạ cồn cào ngay. Cá biển ướp mặn mặn hấp nóng, với cơm trắng. Bửa cơm thanh đạm, ngon vô cùng.
Đây là bửa ăn đầu tiên trên đất nước Tự Do.
Tôi biết chắc chắn rằng, sau này, cho dù tôi có may mắn được ăn được uống bất kỳ món ngon vật lạ nào, cao lương mỹ vị danh tiếng đến đâu đi nửa, cũng không bao giờ sánh bằng, ngon bằng tách trà sửa này, ngon như từng hạt cơm, từng miếng cá của ngày hôm nay. Tôi thấy ḿnh quá may mắn, chợt chạnh ḷng khi nhớ đến những người đi chung tàu, không biết sống chết trôi dạt nơi đâu.

Sau bửa cơm, chúng tôi đi tiếp đến trụ sở cảnh sát.
Ngoài nhân viên cảnh sát, c̣n có vài người thuộc đài BBC đến lấy tin. Cành sát cho chúng tôi biết, chiếc 3392 bị tấn công và ch́m khi c̣n cách Terengganu khoảng hai mươi cây số. Chúng tôi được vớt ở một nơi gần đảo Telipok, cách chỗ tàu ch́m khoảng mười lăm cây số.
Sau thủ tục ngắn ở trụ sở cảnh sát, xe cứu thương đến, Thành và tôi được đưa đến bệnh viện để khám và săn sóc các vết thương trên người.

Bệnh viện thật sang đẹp và yên tỉnh.
Thành và tôi là hai người sau cùng được vớt lên và đưa vào đây.
Khi ra đi, bảy mươi ba thuyền nhân ngồi san sát nhau trong ḷng tàu. Ở đây, chúng tôi gặp nhau, đếm lại chỉ c̣n mười sáu người. Chúng tôi gom lại gần nhau. Người nằm, kẻ ngồi, thỉnh thoảng mới có một vài câu thăm hỏi khe khẻ. Nén hương ḷng đang hồi tưởng về thân quyến đă nằm sâu trong ḷng đại dương. Xót thương c̣n đọng đầy trong khoé mắt. Thấy c̣n gặp nhau mừng c̣n được gặp nhau, không ai muốn hỏi hay nhắc ǵ đến những người đă khuất mặt.
Không gian lặng buồn, nặng nề trôi qua.
Gia đ́nh Vũ hầu như đều thoát nạn. Duy bị vết dao trên trán, với cái đầu băng vải trắng, trông như vành khăn tang. Anh Hai của Vũ mất hai đứa con trai. Hai đứa con của anh Ba, Hiền và Hiếu, đểu không thấy mặt.
Tôi đến chào thầy Sơn.
Thấy tôi nh́n cái sa rong thầy đang mặt, thầy kể cho tôi nghe:
- Tụi nó lôi thầy lên tàu. Ghê tởm lắm em. Chúng nó đánh đập bà con ḿnh, hảm hiếp phụ nử ngay trên sàn tàu. Người mẹ ôm con vướng víu nó, nó kéo giật đứa nhỏ ra quăng ngay xuống biển. Thằng Thái Lan nó lột đồng hồ xong, bắt thầy hả miệng rọi đèn nh́n kiếm, chắc xem có c̣n dấu vàng hay có răng vàng không. Rồi nó ráng vuột chiếc nhẫn cưới trên ngón tay của thầy ra mà không được. Thầy thấy nó quay ngang lấy cây dao, biết là nó định chặc ngón tay để lấy chiếc nhẫn, hoảng quá thầy nhào đại xuống biển. Thà chết dưới biển cho xong, khiếp lắm em ạ! Thằng Thái Lan chẳng tha mạng, nó phóng theo thầy. Nó nắm kéo được cái quần của thầy. May thay, vùng vẫy một lúc th́ cái quần bị tuột ra và nhờ vậy thầy mới bơi thoát được. Tới chừng mấy người đánh cá Mă Lai vớt thầy lên, thấy thầy vậy, họ đưa cho thầy cái sa rong này đây.
Thầy ngồi đơn độc bên góc giường với chúng tôi, giọng chậm buồn kể lại chuyện. Không thấy hai đứa con của thầy, tôi lặng người không dám thăm hỏi thầy thêm.
Đồng bào tôi đă dùng máu và nước mắt của chính ḿnh để ghi lại chuyện vượt thoát t́m Tự Do. Biết bao nhiêu thương tâm đă chưa bao giờ c̣n dịp kể lại, đă chôn vùi trong đáy biển hay rừng sâu.

"Tự do ôi tự do - tôi trả bằng nước mắt
Tự do hỡi tự do - anh trao bằng máu xương
Tự do ơi tự do - em đổi bằng thân xác
V́ hai chữ tự do - ta mang đời lưu vong


Chiều tối.
Tàu chở mười sáu người chúng tôi cặp bến đảo Pulau Bidong.
Mười sáu bóng người tay không hành lư, mỏi mệt, lếch thếch lê bước trên đoạn cầu dài thẳng tấp, cầu Jetty. Cầu nối liền những hành tŕnh vượt biển lắm nước mắt và tử biệt, từ biển khơi vào trại tỵ nạn cộng sản; khởi đầu của một đoạn đời làm người lưu vong trên các nước Tự Do.
Vâng!
V́ hai chữ Tự Do!
Hôm nay, ghi lại những gịng chữ này, quanh tôi hảy c̣n âm vang tiếng khóc trong lời cầu nguyện, c̣n đây những đôi mắt thẫn thờ nhoè nhoẹt nước mắt trên những khuôn mặt nhợt nhạt bê bết dầu máy, thảng thốt kinh hoàng.
Tự Do ôi Tự Do!

00:29 giờ 29 / 9 / 2009


*** Xin đời một nụ cười – Nam Lộc















* * *

Sau khi chúng tôi được đưa đến Bidong một ngày, người thứ mười bảy đến Bidong hội ngộ với mười sáu thuyền nhân 3392 hôm trước.
Chị làm nghề vác gạo, không biết bơi nhưng là người duy nhất c̣n sống sót trong năm người đeo cùng một phao cấp cứu. Chị và phao trôi tấp vào bờ biển ngay phía trước một bệnh viện thuộc Terengganu, Mă Lai. Dân địa phương chỉ cần khiêng bộ chị vào bệnh viện. Mặt của chị bị phỏng v́ nắng mặt trời, chỉ uống được sửa với ống hút.

* * *

Kính xin tạ ơn Ơn Trên đă cho tôi được phép sống tiếp tục để lưu lại cho các thế hệ kế tiếp biết và không bao giờ quên cái giá của Tự Do mà Đồng Bào Việt Nam đă phải trả khi trốn thoát loài cộng sản.


* * *











7. MỘT LẦN VĨNH BIỆT




Trời chưa sáng, gió chắc c̣n say ngủ đâu đâu, không khí chừng như không di động. Nằm trong mấy tấm vách, che mưa gió tạm bợ, bằng tôn chèn với giấy thùng tạp nhạp, hơi nóng hâm hẩm. Vạc cây làm giường chông chênh khập khểnh, oi nồng mùi máu lẫn mùi xác rệp, mùi chăn chiếu cũ của một người đi định cư bỏ lại, quen thuộc như đêm trong trại tù. Mấy ngày nay, lắm lúc tôi cứ ngỡ ngàng khi chợt tỉnh nhớ ra thấy ḿnh đang ở trên đảo Bidong, hướng về quê hương, Việt Nam của tôi đă xa mịt mờ trong nước mắt.

"Tự Do hởi Tự Do! V́ hai chữ Tự Do, tôi mang đời lưu vong"

Trăn trở măi cũng không ngủ thêm được, tôi ngồi dậy, vói tay ṃ t́m khúc thuốc đă hút một đoạn đêm hôm qua, cất để dành trên khung cửa, rồi thả bộ xuống băi biển.
Sáng sớm, nhưng cũng có người thức sớm, đă ra đây từ hồi nào rồi. Nhóm hai ba người với nhau. Vài ba người đơn độc. Quanh tôi là những người đă cao tuổi, không biết v́ giấc ngủ đă trở nên khó khăn ngắn đi hay khoắc khoải ưu tư thương nhớ quê nhà; tất cả hầu như lặng yên ngồi hút thuốc nh́n ra khơi.
Trời yên gió, đại dương trông thật yên b́nh.
Cầu Jetty dài thẳng tấp, tôi trải mắt nh́n theo đến khi nhịp cầu ch́m vào sương mù. Đêm tàu sắp đến cửa biển, h́nh ảnh cầu tàu dẫn lên trạm công an biên pḥng mù mờ trong mưa, chừng như đă làm bảy mươi ba trái tim của người vượt biển đồng ngưng đập...H́nh ảnh những cầu tàu gợi nhắc lắm luyến nhớ bến nhà lẫn xót đau căm thù loài cộng phỉ. Chiều tối mấy hôm trước đây, những người sống sót của tàu 3392 đă được bước chân lên cầu Jetty để vào Pulau Bidong. Cầu Jetty đă đón dẫn và tiển đưa người tỵ nạn cộng sản đến thế giới Tự Do, gắn liền với chuỗi ngày tạm trú trên Bidong, lưu lại lắm kỹ niệm trong ḷng người tỵ nạn.
Tôi nghe nói, mỗi khi có chuyến tiển đưa người ra đi định cư, pḥng Thông Tin sẽ phát thanh bài Biển Nhớ và Ngh́n Trùng Xa Cách, với tiếng hát của Lệ Thu. Cũng năm năm rồi, tôi chưa được nghe lại tiếng hát của Lệ Thu; từ ngày bè lũ giặc cộng bài trừ cấm đoán văn nghệ miền Nam, độc quyền cho các loại văn nghệ ca tụng chủ nghĩa của bọn văn nô. Có người bảo tôi, Lệ Thu cũng đang ở trên đảo. C̣n ở đây, chắc tôi sẽ có dịp sẽ gặp lại, nghe chị đàn hát với thân hữu, được nghe lại tiếng hát Lệ Thu từ loa phát thanh trên đảo. Phải công nhận lời nhạc Biển Nhớ và Ngh́n Trùng Xa Cách cũng trùng hợp với tâm t́nh tiển biệt nơi đây lắm. Lắm nước mắt cho người c̣n phải ở lại đảo và cũng lắm nước mắt cho người được ra đi định cư. Có điều, từ ngày các loài hồ cáo và bè lũ đón gió trở cờ đă trân tráo hiện h́nh lộ diện, nhiều người đă không muốn nhắc nhớ đến cái tên tác giả của mấy bản nhạc này; xin nhường chờ cho chứng nhân lịch sử phê phán…

Hôm nay, tôi sẽ được trở ra cầu Jetty, theo tàu của Cảnh sát Mă Lai sang cơ quan Cảnh sát bên Thành phố Terengganu để ghi nhận thêm lời khai, hầu truy t́m hai tàu hải tặc Thái Lan đă dă man tấn công và húc ch́m tàu chúng tôi.
Không mấy chốc ngày đă rạng sáng, biển thật đẹp trong ánh b́nh minh.
Biết đến bao giờ tôi sẽ được trở về quê hương trong một ngày yên b́nh và rực sáng ánh Tự Do.

Tối hôm qua, Thành từ nhà người quen về có ghé bàn bạc, chúng tôi đều ưu tư về chuyến đi sang Thành Phố sáng mai. Thành có đưa mời một điếu thuốc đă để dành cho tôi. Ngồi nói chuyện, đốt hút khơi khơi hơi phí, tôi để dành đến khuya mới tẩn mẩn thưởng thức một đoạn, xem như thuốc ngon nửa điếu vậy. Không thấy bao hiệu, chắc là thuốc hút loại b́nh dân làm tại Mă Lai, khói đậm đặc như Bastos Xanh. Khúc thuốc sót lại, sáng nay hút được vài lần đă cháy sát đến phần đầu lọc. Đóm lửa ấm trong ḷng bàn tay không mấy chốc đă tàn lụi, khói thuốc loáng thoáng vụt bay theo gió biển. Khi được tàu đánh cá Mă Lai vớt lên, tôi chỉ c̣n cái quần ngắn trên người, đây là tài sản duy nhất và cũng là kỹ niệm, Mẹ đă may cho, khi tôi trốn xuống tàu với thằng Vũ. Tiếc nhớ mấy buổi sáng mới lảnh lương, được ngồi thư thả nh́n khói thuốc Pall Mall cùng giọt càphê chậm chậm rơi. Trên đảo, bây giờ không biết từ đâu tới, tôi thấy nhiều người bày bán thuốc hút, cũng có cái gói thuốc màu đỏ sậm mà tôi mê và nhớ mấy năm nay. Biết thân phận ḿnh, tôi đi qua chỉ ngắm nh́n, lờ đi chuyện ghé lại thăm hỏi linh tinh. Nhớ lắm! Mở gói thuốc mới, lướt nhẹ điếu thuốc không đầu lọc thon dài ngang mủi, hương thơm mê mẩn, phê cả người…

Lay hoay với khúc đầu lọc trên tay một lúc, tôi vùi lấp vào trong cát rồi đứng dậy để đi lần xuống biển. Tiếng sóng ŕ rào đùa vào băi, cát ướt chen giữa các ngón chân trần. Nước biển mát lạnh, ngập dần đến ngang ngực, nghe ḷng bàn chân bắt đầu đạp trên san hô, tôi phóng người bơi ra khơi.
Suốt đêm thứ Bảy đến hôm sáng Chủ Nhật vừa qua, không biết bao nhiêu thuyền nhân c̣n sống sót như Thành và tôi, c̣n lênh đênh ôm ván bơi giữa đại dương? Tôi hướng về một nơi ven chân trời, không xa nơi đây lắm, ḷng biển c̣n đang ôm ấp thi thể của các thuyền nhân đồng hành hay ngọn sóng đang tiển đưa xác thân người bất hạnh đi vào hư vô. Đă gần một tuần rồi, ngoài mười bảy người đă được tàu cứu vớt, chưa có tin ǵ thêm của bà con trên tàu.
Mẹ Việt Nam ơi, biển sâu cùng hoang đảo và rừng sâu đă là nơi những đứa con khao khát Tự Do đă phải bỏ lại xác thân. Vị mặn của biển Đông hôm nay có phải đang hoà cùng những gịng máu của gần triệu thuyền nhân bất hạnh. Tâm trí mênh mang, tôi cứ bơi đến khi thấm mệt, nh́n lại đă ra ngoài biển sâu. Theo sóng, tôi thả người bơi trở vô bờ để c̣n trở về thay đồ, chờ Văn Pḥng gọi đi sang Terengganu.

Khởi đầu, hồ sơ của tàu nhập đảo ghi tôi là người cầm cái cần lái tàu, qua chữ nghĩa tiếng Anh bổng nhiên tôi là thuyền trưởng để đại diện cho cho tàu về thủ tục hành chánh và cho tôi thêm điều tủi nhục đă không chết theo tàu.
Rất may, các cảnh sát Mă Lai phỏng vấn chúng tôi có gốc hay biết nói tiếng Hoa và Thành sẵn ḷng giúp về phần ngôn ngữ. Có người cùng tàu, ôm cùng tấm ván bơi đến khi được vớt lên, đă hiểu rơ chuyện, giúp thông dịch vẫn xác thực hơn là nhờ người khác.

Thành và tôi theo người cảnh sát đi ra cầu Jetty. Băi biển lài, cầu tàu khá dài. Đếm theo bước chân, tôi ước lượng cầu có chiều dài khoảng tám mươi mét. Xa ngoài đầu cầu, một chiếc tàu đang chờ chúng tôi tự hồi nào. Tàu có bề ngang chắc tương đương với PCF Duyên tốc đỉnh, nhưng phần mũi dài hơn gắp đôi và trắng đẹp thanh nhả như tàu dân sự.
Khi tàu đánh cá chở tôi vào bờ, cảnh sát viên lay tỉnh tôi rồi đưa về phỏng vấn ở cơ quan trên đảo Telipok, mặc thường phục. Hôm nay, người đi với chúng tôi cùng thuyền trưởng và hai nhân viên trên tàu cũng mặc thường phục. Như thế này, đi chung với họ tôi thấy dễ chịu hơn. Nghỉ đến cái bộ dạng tỵ nạn với áo quần phai bạc bê bết lại có nhân viên sắc phục cảnh sát đi kèm, trông ḿnh giống như là kẻ tội phạm; nhất là cùng đi sang Kuala Terangganu, thành phố lớn nhất và cũng là thủ đô của tỉnh bang Terengganu, cũng ái ngại lắm. Chẳng rơ tổ chức cảnh sát có ư tế nhị hay không, chúng tôi vẫn thầm cám ơn cảnh sát Mă Lai rất nhiều.

Kuala Terangganu chỉ cách Trại Tỵ Nạn cộng sản của người Việt ḿnh chừng 30km theo đường chỉ thẳng.
Tàu rời bến, tiếng máy thật êm, lướt vùn vụt như đang bay trên đầu sóng. Rất có thể, v́ động cơ phối hợp với hệ thống thuỷ phản lực của các tàu vận chuyển này, cầu được đặt tên là Jetty. Tôi thương nhớ chiếc 3392 của chúng tôi. Chiếc tàu mũi bầu bĩnh chở hàng trong sông, cố giúp đưa chúng tôi vượt biển rộng đi t́m Tự Do. Thương tiếc con tàu đă phải nặng nề hứng chịu sóng gió ngoài biển khơi và tan nát thân xác v́ tham vọng của bọn hải tặc bất nhân. Có chiếc tàu như tàu cảnh sát, không cần chi đến súng đạn vơ trang, chỉ cần phân nửa tốc độ, bọn hải tặc vô phương theo đuổi để hăm hại chúng tôi.

Mặt trời đang ở chếch trước mũi. Tàu không xuôi về nam như tôi nghỉ, lại lấy hướng đông, chạy bọc ṿng qua ḥn đảo nhỏ Pulau Karah.
Đồng bào trên Bidong trông h́nh đặt tên, Pulau Karah được gọi là đảo Cá Mập và Pulau Bidong của chúng tôi, đang mờ nhỏ lại dần, trông rất giống với tên đảo Con Rùa.
Huyền thoại lịch sử có kể truyền về rùa vàng, rùa thần.
Thần Kim Quy đă linh thiêng đáp ứng lời khẩn cầu của An Dương Vương. Thần hiến kế giúp vua xây thành h́nh trôn ốc và tặng móng vuốt của thần cho vua làm lẫy nỏ. Thành Cổ Loa và Linh Quang Kim Quy Thần Nỏ, đă một thời bảo vệ nước Âu Lạc, chiến thắng quân xâm lược phương Bắc của Triệu Đà. Thần Kim Quy lại xuất hiện trong chuyện tích về cuộc dấy quân khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, đánh đuổi quân Minh, dành lại độc lập cho Đại Việt, qua thanh kiếm Thuận Thiên và Hồ Hoàn Kiếm.
Người làm ăn, mê tín dị đoan, thường kỵ con rùa!
Hôm nay đây, Bidong hiền hoà nằm đấy, trông như Con Rùa giữa đại dương. Con Rùa Bidong đang bao dung che chở và ban cho hàng trăm ngàn thuyền nhân tỵ nạn cộng sản có được thế giới của Tự Do, tạm trú để chờ ngày đi định cư.
Nhân Dân Việt Nam không thể chỉ cầu nguyện cho Thần Kim Quy sẽ nổi giận, trừng trị loài quỷ đỏ bạo tàn trên quê hương, hay mong chờ Lê Lợi được Thuận Thiên Kiếm. Tôi tin rằng mỗi người dân đang có trong tay Thuận Thiên Kiếm, hờn căm sẽ biến thành triệu triệu Linh Quang Kim Quy Thần Nỏ. Đảng cộng sản phải bị tận diệt trước khi đất biển Việt Nam bị dâng hiến hết cho quan thầy của chúng nó.
Người Việt chúng ta không thể chui lùi vào thời kỳ làm nô lệ cho Tàu!

Ngoảnh lại, đảo Con Rùa đă xa khuất bên dưới chân trời, bây giờ xung quanh tàu chỉ c̣n thấy trời và biển. Qua khung kính, đứng bên trong nh́n ra mặt biển, không bảo nhau, Thành và tôi ḍ đều có ư t́m kiếm dấu vết liên hệ với chiếc 3392. Thỉnh thoảng trên bọt sóng trắng có những mảnh rác sậm màu cây gổ, chúng tôi lại nh́n nhau, ḷng tự hỏi có phải chăng đây là mảnh ván vụn từ xác tàu ḿnh?!
- Hello!
Cùng quay lại t́m người gọi, thấy Moez thân thiện đưa gói thuốc mời. Chúng tôi cám ơn anh chàng cảnh sát tốt bụng, rồi mồi điếu thuốc hút và nói chuyện với Moez.
Thuốc có hiệu chữ Mă Lai, khói thơm giống giống như Ruby Queen ngày trước. Từ khi cái lũ cộng phỉ lểnh nghểnh đầy phố phường miền Nam, tôi ráng dằn ḷng hoài vẫn chưa được; cứ mỗi lần trông thấy điếu thuốc lại nhớ đến loại thuốc hút có cái tên rất dị hợm là Sài G̣n "giải phóng". Người ta nói rằng cái thứ này đốt có mùi khói như Ruby chi chi đó. Chỉ cần nghe thấy mấy cái chữ "giải phóng" của bè lũ cộng sản bất nhân là máu hận đă sôi sục rồi, tôi ghét cái thứ chữ nghĩa của bọn cốt đột cộng sản ấy lắm!
Tôi hận cái lối ghép chữ này vô cùng, lũ chúng nó đă sĩ nhục tên gọi Sài G̣n kính mến và đồng bào miền Nam!
Đảng cướp cộng sản cưởng đoạt quyền Tự Do, quyền được làm người của đồng bào Sài G̣n, của toàn dân Việt Nam, lại gian xảo rêu rao là …giải phóng.
Đồng bào không cần cái loại giải phóng chết tiệt của đảng cộng sản bất nhân!
Tôi căm thù cộng sản, đâm ra ghét cay ghét đắng cái tên thuốc lá có chữ "giăi phóng" của bè lũ chúng nó. Không cần biết cái thứ thuốc hút này là thuốc cũ hiệu mới, ngon hay tồi ra sao…, thà vấn thuốc rê hút vẫn thấy phê hơn!
Moez ân cần:
- Miss your boat?
- Yes, very much.
Ngôn ngữ c̣n giới hạn, tôi vắn tắc đáp lời.
Đứng hút thuốc, góp chuyện với nhau một lúc, tôi để Thành và Moez nói trực tiếp với nhau cho dễ, trở lại khung cửa kính và biển nước. Mới hơn chín giờ sáng. Hôm sáng Chủ Nhật, giờ này Thành và tôi vẫn c̣n ôm nấp hầm mũi tàu bơi; tâm tư tôi ch́m trôi bồng bềnh theo những đợt sóng trắng ngoài khơi.
- Anh Tính…
Nghe gọi, tôi xoay lại, chưa kịp hỏi th́ Thành tiếp ngay:
- Moez cho hay, cảnh sát đang t́m nơi ḿnh bị cướp, sắp tới chỗ tàu tụi ḿnh ch́m.
Tôi ngạc nhiên nh́n Thành và Moez. Đoán được chuyện chúng tôi nói với nhau, Moez gật đầu xác nhận và chỉ về phía trước:
- Few minutes.
Một lúc sau, động cơ giảm bớt tốc độ. Bên trong tàu, qua cửa kính tầm nh́n bị che khuất. Không biết là sắp tới hay cảnh sát đang chậm lại chỉ để t́m kiếm, tôi bồn chồn hết ngó Moez cùng các nhân viên trong pḥng lái rồi nh́n ra ngoài biển ngóng t́m. Thời gian trôi qua, nh́n măi ngoài biển cũng chỉ thấy biển với sóng. Chúng tôi bảo nhau, gần cả tuần rồi, chắc sóng lớn làm tróc neo hay bứt dây neo và cuốn tàu ḿnh đi mất rồi.
- Come, come… follow me.
Moez rời pḥng lái, vẫy gọi chúng tôi và bước nhanh ra phía sau đuôi tàu.
Động cơ chậm lại, thân tàu hạ xuống nằm trên mặt biển bị sóng đẫy đùa, thân tàu lắc lư lao chao. Bốn người cùng bước ra đứng ngoài đuôi, ngó t́m kiếm măi chỉ thấy trời biển trùng trùng. Moez và người bạn cảnh sát lớn tiếng thăm hỏi với thuyền truởng bên trong. Hiểu ư chúng tôi cũng muốn biết câu chuyện, Moez giăi thích:
- Thuyền trưởng nghỉ rằng dấu hiệu trên radar rất có thể là phần mũi của chiếc tàu. Ông ấy tin là tàu đang chạy đúng hướng, chắc là tụi ḿnh bị sóng cao che khuất tầm nh́n…
- Here, she is!
Có tiếng gọi lớn của thuyền trưởng, báo tin cho chúng tôi.
Tàu tăng thêm tốc độ, lướt nhanh lên rồi đảo ṿng ngang.
Và đây, xa xa ngoài khơi, một khối gổ đen nhấp nhô ẩn hiện theo sóng. Tàu ṿng gần lại hơn, tôi có thể nhận ra phần sơn đỏ của đà mũi và con mắt ḱnh ngư cẩn bên dưới. Không phải thăm hỏi thêm, các nhân viên cảnh sát biết chắc rằng đây là phần xác thân duy nhất c̣n xót lại của chiếc 3392, họ lặng yên cùng chia xẻ xót đau với chúng tôi. Dây neo căng giữ mũi tàu cất lên trên sóng, trông như con cá già đă kiệt sức, ráng trồi lên hớp những hơi thở sau cùng.
H́nh ảnh mũi tàu quen thuộc chợt cay mờ trong mắt tôi. Đại dương quanh tôi bổng ch́m vào màn đêm, đêm hải chiến với lửa hận bập bùng trên chay bom xăng của những thuyền nhân bất khuất. Tôi nghe tiếng máy dầu cặn gào hú sôi sục uất hờn. Tôi nghe thân tàu bị chấn động mạnh, tiếng nổ tan nát linh hồn, đổ vỡ hỗn độn, tiếng người đau đớn kêu gào vang dậy, thân xác chơi vơi trong biển nước. Sóng tràn ngập ngăn nghẹn hơi thở. Tất cả đột ngột tan biến, chỉ c̣n lại đêm dài, đen tối cùng sóng biển.
Tàu chạy đến gần hơn, nhưng thuyền trưởng vẫn thận trọng giữ khoảng cách khá xa nơi tàu ch́m, rồi dừng lại cho Moez chụp một số ảnh. Đợt sóng cao đẩy mũi tàu lên, lộ ra khung cửa vuông thông xuống hầm mũi; nơi ấy tôi đă leo lên tháo lấy nấp hầm, làm phao nương tựa để bơi qua đêm. Chiếc 3392 chỉ c̣n sót lại bấy nhiêu đấy! Ngoài mũi tàu, quanh đây không c̣n dấu vết ǵ của nạn nhân trên mặt biển.
Vượt trốn cộng sản là đă chấp nhận chết để đánh đổi lấy Tự Do, dù chỉ là Tự Do cho linh hồn ḿnh. Biết thân phận cô thế thiếu vơ trang súng đạn, chống lại bọn hải tặc là trăm phần mất mạng, thuyền nhân 3392 vẫn cam đảm chọn hy sinh bản thân để bảo vệ con tàu và thân quyến. Bảy mươi ba người cùng nhau thoát được gông cùm cộng sản, đến giờ phút này c̣n năm mươi sáu người không rơ tính mạng ra sao, đang nơi đâu.
Moez đứng giữa vỗ vai Thành và tôi:
- …going to Terengganu…OK...come inside!

Tàu chậm chậm khởi chạy, rồi lướt sóng phóng đi.
Chúng tôi luyến tiếc nh́n vói theo mũi tàu đang khuất nhanh trong sóng.
Thương con tàu vô cùng, nó đă cùng tôi san sẻ lắm kỹ niệm trong những tháng ngày nắng mưa trên sông biển quê hương. Quư mến con tàu đă che chở sóng băo và hải tặc bạo tàn, cho chúng tôi thoát thân đến bến bờ Tự Do. Bây giờ phải rời bỏ mũi tàu, ḷng xót xa đau như phải bỏ lại một phần thi thể của chiến hữu dũng cảm trên chiến trận.
Mấy ngày nay, mười bảy người sống sót ráng nhớ về hai chiếc tàu cùng bọn hải tặc. Đêm hôm qua tôi không ngủ được, sáng mai đi mà chẳng gom góp thêm được chứng tích ǵ rơ ràng hơn.
Trong trận hổn chiến với tàu cướp, mạng sống quá mỏng manh, không ai tâm trí đâu để nghỉ đến chuyện sống sót, để nhận diện bọn chúng sau này. Ngoại trừ chiếc tàu tham chiến sau, sơn màu xám tro dị biệt, nhưng lúc nó tới trời đă tối lại giữ khoảng cách khá xa, ít khi dùng đèn rọi, nên không thấy rơ mặt thuỷ thủ đoàn. Chiếc kia, như hầu hết tàu đánh cá Thái, tụi nó sơn loè loẹt, xanh cam vàng đỏ, tương tự như nhau. Không ai thấy số tàu, chắc chúng nó gian manh che đậy mất, c̣n tên tàu là chữ Thái Lan ngoằn nghèo. Tôi chỉ nhớ thằng Thái Lan lấy cuộn dây có cái đầu cạo trọc lóc. Cái bản mặt của mấy thằng hải tặc vận xà-rong, thằng nào cũng đen đủi và trông tương tự như nhau, cùng một loài quỷ quái… rất khó nhớ hay phân biệt được.
Chuyến đi sang Terengganu hôm nay, coi như thủ tục sau cùng của cảnh sát tỉnh bang, hy vọng nhận diện hay truy t́m được hai tàu hải tặc ấy rất mong manh.

Bây giờ đă là cuối tháng Ba, nhắc nhớ Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư.
Đất nước không vương vào khổ nạn cộng sản, đồng bào Việt Nam đă không phải chết trong uất hờn. Hàng triệu hồn oan từ thời Cải Cách, Đấu Tố, thảm sát Mậu Thân c̣n vất vưởng oán than. V́ hai chữ Tự Do hàng triệu đồng bào đă phải xa ĺa quê hương. Triệu người đă không sống sót để ghi lại những trang sử đen hăi hùng, khi Nhân Quyền bị đảng cưởng đoạt, Tổ Quốc Việt Nam bị cộng sản dày xéo bán dưng.
Cho đến hơi thở sau cùng, cùng hồn thiêng của thuyền nhân bất hạnh, tôi thề không bao giờ quên tội ác của loài cộng sản và bọn hải tặc Thái Lan!
Xót đau, tôi quay t́m về nơi mũi tàu đă bị bỏ lại:
- Thượng Đế hởi, cái giá của Tự Do cho đồng bào tôi sao vô cùng khắc nghiệt.

Một lần đi, đă thực sự là một lần vĩnh biệt!






Kính dâng nén hương tưởng niệm Ngày Quốc Hận.

























8. ĐỂ NHỚ. ĐỂ QUÊN.






Vươn cao bên trên hàng cây xanh tươi là những đường nét cong vút mạ vàng. Một kết hợp giữa kiến trúc Tây phương với mỹ thuật của dân tộc Thái Lan. Nhờ thế, tôi đă t́m được ngôi chùa Thái, trong cái thành phố xa lạ và đông đúc này, cũng không có ǵ quá khó khăn.
Giờ lễ Phật, tất cả đạo hữu đă vào bên trong chùa.
Trong sân, một thanh niên đang chăm sóc vườn hoa. Nắng trưa thật gay gắt, như cứ muốn làm sạm thêm màu da của người làm vườn. Anh có cái vóc dáng của một con báo đen, một vơ sĩ Thái có thừa năng lực tung người lên, để đánh bằng đầu gối cao đến ngang ngực.
Nh́n anh với cái beret màu xanh đen đă bạc màu, nghiêng nghiêng trên đầu, ḷng tôi bồi hồi nhớ về những người con dũng mănh của Trường Mẹ ngày nào. Tôi nhớ đến cái thời thao trường đổ mồ hôi. Tôi nhớ đến cái nóng nung đốt của mặt trời, trên đồi Mẹ Bồng Con. Tôi nhớ đến màu máu khô lẫn lộn với bùn đen và lớp da cháy nắng, trên chiến trường, trong những trại tù mà bọn cộng sản gian manh đă gọi là “cải tạo”.

Anh làm vườn nhă nhặn mở cổng rào cho tôi. Chấp tay đáp lễ với anh, tôi hỏi thăm giờ thuận tiện để được vào thăm viếng bên trong chùa . Tôi nhờ anh giúp tŕnh xin với Thầy khi tan lễ, rồi chào anh và đi trở ra xe ngồi chờ.


Đă hơn 30 năm rồi!

Thời gian qua mau, nhưng vết thương đau, của thuyền nhân Việt Nam, chừng như vẫn c̣n đó. Biết bao nỗi hăi hùng đă được nghe biết đến, và biết bao nhiêu kinh hoàng đă không bao giờ c̣n có lần được kể lại. Có những mất mát không ǵ thay thế được, mà thời gian cũng không thể nào mang vào dĩ văng.
Ba mươi năm trước đây, nhà tôi được hung tin về chiếc tàu chở người thân đi vượt biên. Một số phụ nữ bị cướp biển Thái Lan bắt đem đi, giam giữ ở đảo hoang, để phục vụ cho loài thú mặt người. Tất cả những nạn nhân c̣n lại trên tàu đă bị mất tích; trong đó có cha, mẹ, anh và em gái của nhà tôi.
Cho đến nay, chưa ai biết rơ, đă bao nhiêu thuyền nhân liều ḿnh vượt thoát khỏi ṿng kềm kẹp của bọn cộng sản, mà không bao giờ đến được bến bờ tự do, như mơ ước.
Chiếc ghe chở tôi đi, cũng bị hải tặc tấn công.
Bảy mươi ba người, gồm nhiều gia đ́nh thân nhân và bạn hữu cùng trốn đi trên ghe. Mười bảy người sống sót trong sóng gió, qua đêm đen; đến trưa hôm sau th́ được tàu đánh cá Mă Lai lần lượt vớt lên...

Từ ngày được định cư đến nay, gia đ́nh chúng tôi tránh đi đến nhà hàng, tất cả những nơi của người Thái Lan!
Nó không là cái thù dai dẳng hay căm hờn cả dân tộc một cách vô lư, nhưng một cái ǵ đó cứ ngăn chặn. Như người ta e dè, không muốn chạm đến những nơi mà vết thương vẫn chưa thật lành!

Giờ phút này, những chiến sĩ Việt Nam đấu tranh cho lư tưởng tự do, vẫn c̣n c̣n đang bị gông cùm trong nhà giam của Thái Lan. Các anh đă hy sinh cuộc đời cho Tổ Quốc Việt Nam Tự Do. Ngày trở về của các anh, chưa có ǵ là đáng tin cậy nơi Toà án Thái, cùng những đ̣n chính trị man trá của các thế lực đang cầm quyền.
Hôm nay đây, tôi sẽ vào thăm viếng ngôi chùa Thái Lan!
Ḷng ưu tư bâng khuâng!



Mặt trời xuống thấp dần, ánh nắng có phần dịu dàng hơn.
Người đi lễ rồi cũng lần lượt ra về hết. Lề đường giờ bây giờ đă có chỗ, tôi đem xe đậu gần trước cổng chùa. Thấy tôi, anh làm vườn đi tŕnh báo với Thầy, rồi ân cần hướng dẫn tôi vào bên trong chùa.
Chính điện rộng lớn, trống vắng sau giờ lễ Phật. Bục thờ Phật đơn giăn mà cung kính. Sàn chùa lót gỗ nâu sậm sờn cũ. Một vị sư đang ngồi đọc kinh sách trên miếng thảm nhỏ, trải khiêm tốn ở góc bên phải, dưới bục thờ. Chờ tôi lạy Phật xong, Thầy ra hiệu, mời tôi đến ngồi đối diện. Tôi cám ơn Thầy đă dành thời gian tiếp tôi, dù mới vừa xong chính lễ cho tín hữu.
- Thưa Thầy, tôi là một thuyền nhân Việt Nam.
- Ở đây, chúng ta là những người giống nhau trong niềm tin về đạo Phật.
- Cám ơn Thầy! Thưa Thầy, tôi đến để xin Thầy viết giúp cho câu chữ Thái có nghĩa là " Hăy trả Tự Do"
- Trong ngôn ngữ Thái, có nhiều cách để viết câu này. Nếu tôi biết rơ hơn trường hợp anh cần, th́ tôi sẽ t́m chữ chính xác và đúng nghĩa hơn.

Ngày xưa, trước Cao Ủy th́ người nào cũng tự nhận là tị nạn v́ chính trị.
Bây giờ, muốn đề cập chuyện ǵ có liên hệ đến chính trị th́ phải tuỳ người, tuỳ hội đoàn. Quyền tự do tư tưởng, tất nhiên, là phải được tôn trọng. Hơn nữa, tôi đang nói chuyện với một vị chân tu người Thái Lan. Tôi e ngại:
- Thưa Thầy, kính trọng Thầy, tôi không thể nói dối Thầy. Nhưng nếu tôi kể sự thật th́ sẽ có liên hệ đến các việc chính trị.
Vị sư Thái Lan từ tốn:
- Tôi nghỉ, đấy cũng là những điều có liên hệ với con người và đời sống, phải không anh?
- Vâng, thưa Thầy!
- Nếu thế, th́ chúng ta sẽ không làm ǵ sai với những điều đạo Phật đă dạy cho.
Tôi yên tâm, kể cho vị sư Thái Lan nghe về các chiến sĩ Việt Nam và những man trá bạo ngược mà các anh c̣n đang gánh chịu trong các nhà tù trên đất Thái...
Thầy trầm ngâm:
- Các ông ấy bây giờ chắc cũng đă trọng tuổi rồi, sao không trả tự do cho họ?!
Tôi yên lặng nh́n vị thầy tu ngồi suy tư, mắt đang ḍ đọc những hàng chữ Thái mà ông vừa viết ra trên trang giấy nhỏ.
Thầy chấp tay chậm răi:
- Xin chờ tôi vài phút.
- Vâng, cám ơn Thầy rất nhiều.
Tôi đứng dậy, chào tiễn vị sư Thái Lan đi vào văn pḥng.

Sau khi tiếng máy in đă ngưng, Thầy trở lại, đưa cho tôi trang giấy in chữ Thái và giăi thích:
- Đây là câu chữ Thái, mà anh cần...
Vị sư Thái niệm câu kinh Phật, hiền hoà:
- Anh có thể ở lại viếng chùa thêm hay lạy Phật, hay ra về khi nào anh muốn.
Tôi nh́n vị sư người Thái chân t́nh, cảm kích nhận trang giấy:
- Cám ơn Thầy đă giúp tôi rất nhiều!
Thầy chấp tay ân cần:
- Tôi xin chúc và cầu nguyện cho các vị c̣n tù tội được thật nhiều may mắn và được tự do trong một ngày thật gần!

Vị sư Thái Lan bước lên bục thờ thấp nhang, cung kính khấn nguyện.
Hồi chuông nhỏ chậm răi, nối nhau ngân ngân vang. Trên bục thờ, khói lam thoáng nhẹ bay. Nét trang nghiêm trầm tư của tượng Phật, đưa ḷng người t́m về nơi an b́nh bảo bọc.



Ảnh chụp với L. G. Thành, người đă cùng ôm chung tấm ván.
Chụp trước đài kỹ niệm, đang xây cất trên đảo tỵ nạn cộng sản Pulau Bidong.
V̀ HAI CHỮ TỰ DO - Phần Phụ Chú

* Đầu tháng 6 năm 2008, khi BK Thành 344 khởi đầu làm Trang Nhà cho Khoá BẤT KHUẤT (www.batkhuat.net), tôi có góp bài Để Nhớ Để Quên, gọi là cho có bài trong mục Văn Chương. Đây là bài được viết đầu tiên, nhưng xin được xem là bài thay lời kết. Dạo ấy, mặc dù c̣n rất bận rộn lo cho Trang Nhà của Bất Khuất đang c̣n trong lúc mới tạo dựng, BK Thành đă rất tận t́nh giúp đăng thêm h́nh chụp chung của L. G. Thành (người bơi chung tấm ván) và tôi ở phần cuối bài.
* Từ khi được đinh cư, tôi đă hỏi thăm t́m tin tức của anh L.G. Thành nhưng chưa thành công. Nhớ rằng, L.G. Thành có nói với tôi phải ở lại Bidong để chờ bảo lảnh đi định cư ở Úc, tôi nhờ BK Sang 333 thử giúp tôi t́m ở Úc. May thay, anh L.G. Thành đọc được mẫu nhắn tin ngày 03-09-2008 trên báo Việt Luận do BK Sang nhờ đăng.
* Nhân đây, tôi xin mượn phần Phụ Chú này để cám ơn BK Thành và BK Sang đă giúp tôi t́m người bạn đồng thuyền thất lạc từ 1980. Đồng thời cám ơn tất cả các Huynh Trưởng Bất Khuất đă đọc bài, ủng hộ tinh thần, tạo niềm tin cho tôi viết về con tàu 3392.
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Tinh men,
Co nguoi ban than cua Tinh dang tim ban day.
Than
Thanh 344

----- Forwarded Message ----
From: ………@yahoo.com>
To: ..........@yahoo.com

Sent: Monday, September 29, 2008 8:09:20 AM
Subject: nho nhan tin cho anh Bui Duc Tinh

Kinh thua Ban Bien Tap web Batkhuat,

Toi ten la L. G. Thanh, o Uc, co doc bai "De nho De quen" cua anh Tinh.Toi vo cung cam dong ma mat rung rung le,vi nguoi chup chung anh voi Anh Tinh chinh la toi,.Toi muon LL voi anh ay ,nho Ban Bien Tap goi loi tham Anh ay va gia dinh duoc hanh phuc, email cua toi la...........

Tran trong cam on Ban Bien Tap
from L G Thanh - 30/09/2008













Đặc biệt cám ơn quư Niên Trưởng, Huynh Trưởng và Bạn Hữu đă nhiệt t́nh khuyến khích...

BK Tính 323









 


VĂN CHƯƠNG

Người lính VNCH

Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Khối diễn hành
Băi tập
Lễ măn khóa


Đó đây trên quê hương
Here and There In The Homeland
Người c̣n nhớ hay người đă quên
Những ngày tù chung với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nh́n Của Người Ngoại Quốc

Đêm liêu trai
B̀NH-TUY, những ngày cuối cùng...
T́nh Anh Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và ḥa b́nh
Tây Ninh, chút c̣n lại trong ḷng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc sống quả phụ
Thượng Tọa Thích Quang Long
4 ngôi mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi ḍng về “Cỏ Thu Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi anh Tŕu mến
Thiên bi hùng ca QLVNCH
Để nhớ lại những ngày Mùa Hè Băo Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 - LĐ81 BCD
Trận đánh cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù cộng sản...
Sông Mao, phi vụ ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của tôi...
Khóc một ḍng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện t́nh của một Phi Công
Hai v́ sao lạc
Tôi thương nhớ vợ tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Hồi tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Chinh nhân và người t́nh
Tôi vào học viện Cảnh Sát Quốc Gia
Dọc đường gió bụi
Cảm nghĩ của một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái B́nh Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Đội Thiên Nga
Viết về ngày QL 19/6/2011
Người không nhận tội  
Chào cô ... em gái Biệt Cách Dù
Chuyện t́nh chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ hỏa lực 6  Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Người không nhận tội
Tháng 4 xót xa
T́m lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi hờn di tản
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Găy súng
Chuyện người Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ H́nh Của Chính Ḿnh
Đại Bàng Gảy Cánh Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy c̣n đâu?
Vinh danh Tướng Đỗ Cao Trí
Trung Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân trường
Anh trai Biên Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời lính...
Câu chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Ḍng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa qua những t́nh khúc bất tử của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi - Chúng con vẫn c̣n đây
Khi người ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hăy thắp cho anh một ngọn đèn
Chiếc áo phong sương t́nh anh nặng
Người lính VNCH trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những gịng sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư t́nh của người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
T́nh Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh "homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nh́n được xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư t́nh
May mà có em
Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ
May mà có em đời c̣n dễ thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba ḍng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Những xác chết trên mănh đất chữ "S"
Thân phận người lính găy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia Trung ...
Những mảnh đời dang dở - phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, phần 6, phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời chinh chiến
Vược ngục
Chuyện t́nh khoai lang
Tâm t́nh người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực 19-6-73
Vinh danh người lính VNCH

Linh tinh

Bà xă đai-ét
Chuyện kể: Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi t́m Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất t́nh
Dấu "Hỏi Ngă" trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi Tây
Ư yêu đương
Đêm qua sân trước nở cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
T́nh... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ t́nh
Mùa Thu qua thi ca  
Phụ nữ Việt Nam qua Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi ḍng sông Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi t́m tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những giao thoại văn chương
Xin hăy giúp tôi
Con c̣n nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ t́nh
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương  
Đường đi không đến
Xương trắng Trường Sơn
Về lại cố hương
Tự do ơi, tự do!
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà ṇi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô chở mùa xuân
Em đi để lại con đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con đường không lối thoát
Những bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái t́nh
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ c̣n một ngày để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một ḿnh
Hăy bế em ra khỏi cuộc đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Ḥa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc t́nh
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nh́n những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
V́ hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Ngh́n trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời c̣n vui v́ có chút ṭm tem
Đôi mắt Phượng
Ngựi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
T́nh già
Buổi chiều ở Thị trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân t́nh
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông bạn già năm xưa - English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài ṿng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
T́nh người
Hồi kư của một người Hà Nội
T́nh nghĩa, nghĩa t́nh
Đôi đũa
Gịng đời... và hồi âm gịng đời...
Không cho phép ḿnh quên
Thảm sát trên đảo Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
T́nh ngây dại
Để nhớ để quên