Thầy Chín

Lời tác giả
Tháng Mười năm 1999, sức khỏe Ba tôi bắt đầu sa sút.
Tháng Mười năm 2001, Ba phải vào ra bệnh viện mấy lượt.
Cuối tháng Mười Hai, tôi mất vĩnh viễn một chiến hữu, một người cha, một vị Thầy kính mến.

"Thầy Chín" chỉ là truyện, những đoạn nhớ thương rời rạc.
Bài này đã được viết vào cuối năm, 1999.
Đăng trên báo Calgary Vietnamese News, Số 34 / January 2000.
Tên nhân vật nếu có trùng hợp là ngoài ý muốn của tác giả, xin lượng thứ cho.

Thân kính, Bùi Đức Tính

Ngồi buồn mà trách Ông Xanh
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau, xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét, thì trèo với thông.

(Vịnh Cây Thông) Nguyễn Công Trứ

****

- Thưa Ba, cho con cắt móng tay.

Thằng Hai cầm cái đồ cắt móng tay, đi lại gần và xin phép cha.

- Ờ, được con, con cắt giúp giùm Ba. Thầy Chín dễ dãi đưa bàn tay ra cho con.

Dựa người vào lưng ghế, Thầy nheo mắt ngó cái đồng hồ treo trên tường:

- Mấy giờ rồi Hai, ...hình như đã chiều xuống rồi phải không con !

Thầy Chín vẫn quên là mắt mình đã kém, không thấy rõ mấy con số trên mặt cái đồng hồ này nữa. Thầy cứ ngó lên đồng hồ, rồi mới nhớ ra và hỏi giờ.

- Dạ gần bốn giờ, Ba ạ! Ngó theo ánh mắt của cha đang bâng khuâng dọ dẫm trên bãi cỏ trước sân, giờ đang phủ đầy những lá màu thu vàng úa, lòng người con nghe trĩu buồn.

- Vậy mà, Ba thấy như đã đến giờ tan sở.

Thằng Hai định nói với cha, ngày nơi đây đang ngắn dần lại cho đến hết mùa đông, nhưng chợt nhớ Thầy Chín vừa gợi nhắc đến mấy chữ ''giờ tan sở", nên thôi, không nói gì thêm.

Thầy Chín có thói quen dùng nhóm chữ "giờ tan sở", dù đã bỏ nhiệm sở, về nông thôn làm ruộng. Thằng Hai thấy xót xa ái ngại, biết cha mình đang nhớ đến mảnh đất quê hương. Nhớ nơi có mồ mả của Tổ Tiên, có hàng xóm láng giềng thân thương đùm bọc lẫn nhau. Thầy Chín nhớ đất nước Việt Nam ngày xưa của Thầy lắm. Thầy Chín luyến nhớ cái thời còn được đi dạy học; nhớ trường lớp, nhớ những đứa học trò ngây thơ, nhớ những bài công dân, lịch sử.

Cầm mấy ngón tay cằn cỗi của cha, nhìn màu móng tay bây giờ đã bị thâm đen, thằng Hai thấy thương cha vô cùng.

Khi tin cha mất đến đột ngột, cậu con út đành xếp bút nghiên, từ giã thầy lớp ở Pétrus Ký; về quê học cầm cái cày, học cuốc đất làm vườn, làm ruộng để nuôi dưỡng mẹ già.

Rồi chiêu bài "yêu nước" lại được treo lên. Những tiếng kèn thúc quân "bảo vệ dân tộc" đã lừa lọc đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc vào cuộc chiến tranh chém giết biết bao người miền Nam vô tội, những khẩu hiệu sắt máu được giương cao trên đường phố cùng với lời "thề phanh thây uống máu quân thù" đã dẫn đường cho bao nhiêu thế hệ Việt Nam như những con thiêu thân lao vào lò lửa, phục vụ cho tham vọng bá quyền của Nga và Tàu. Cách mạng càng ngày càng lộ rõ ra bộ mặt thật man trá của chủ nghĩa cộng sản, huỷ diệt nhân tính cùng nghĩa tình dân tộc. Đêm đấu tranh, đấu tố đồng bào; ngày xác phơi đe doạ nhân dân.

Mẹ và con đành phải bỏ ruộng nương, về thành thị, để tìm sự sống và Thầy Chín làm thầy giáo tiểu học.

Hai mươi tám năm còng lưng đạp xe đi dạy.

Khi thủ đô Sài Gòn bị đổi tên. Thầy Chín bị chế độ cầm quyền buộc phải làm ngơ, để giãng dạy những điều trái với lương tâm chức nghiệp, phải dạy trẻ thơ tập làm toán với bắn giết và xác người, phải uốn lưỡi để lấp liếm sự thật, phải ngậm miệng dối lòng đễ giãng dạy về lịch sử theo ý chúng nó; Thầy Chín khai bịnh, nghỉ ở nhà. Gom được một mớ giấy chứng của y tá, kẹp cùng với cái đơn, Thầy đạp xe lên Ty để xin thôi việc.

Ty Tiểu Học, cũng những tường vách quen thuộc này, nơi mà Thầy và đồng nghiệp, vẫn thường trở về để họp hành, hàn huyên. Bây giờ, khung cảnh sao bổng dưng trông thật xa lạ, ngỡ ngàng. Từ cái máy phát thanh trên bàn, một giọng nữ đang oang oang đọc bài của đảng. Những ngôn từ ghép lạ kỳ chướng tai, được lập đi lập lại với âm vang kiêu hảnh. Đứng nhìn căn phòng, chừng như trời đã vừa đổ mưa trong đây, mắt Thầy chợt thấy không gian mờ mịt trong mầu cờ đỏ.

- Tìm ai ?

Thơ ký mới của Ty Tiểu Học, người đàn bà trong bộ đồ đen, kéo cái chéo khăn rằn thời thượng quấn trên cổ, quẹt mồ hôi, bực bội xẳng giọng hỏi. Rồi bà ta bảo Thầy Chín đi đến cái phòng làm việc của Trưởng Ty. Một nhóm người mặc áo tay ngắn, bỏ ngoài quần, mang dép. Người thì thu một chân, người ngồi chồm hổm hẳn trên bộ ghế dựa tiếp khách. Họ ngồi bình thản phì phà thuốc lá trò chuyện nhau. Người xưng danh là Trưởng Ty Tiểu Học, chẳng màng bỏ chân xuống đi lại bàn làm việc hay đọc đơn thư của Thầy Chín, chỉ lơ đểnh hỏi qua lý do xin nghỉ của Thầy Chín. Hắn cho Thầy Chín biết về quyết định tịch thu tiền hưu trí, nếu Thầy nghỉ dạy học. Đã từng biết quá rõ về cái bọn xưng danh cách mạng yêu nước, từ thời còn làm Thanh Niên Tiến Phong, khi chúng muốn thì có thiếu gì lý do chúng lấy.

Thế là xong!

Thầy Chín trang trọng để lại thỏi phấn trắng bên cạnh cái bảng đen. Nhận chịu hình phạt là bị tịch thu trọn phần hưu bổng của một công chức có thâm niên đã qua Thượng Hạng Ngoại Hạng.

Thầy Chín không vui lòng làm nghề Thầy Giáo nữa.

Thầy chấp nhận rời nhiệm sở, mà không được phép sờ đến một đồng xu của mình đã chắt chiu dành dụm trong quỹ hưu trí từ khi làm công chức.

Biển dâu!

Có ngờ đâu, bỗng dưng trở nên vô nghề nghiệp, trắng tay.

Lắm người cười, nói Thầy Chín thiếu thức thời, tự rước khổ vào thân. Họ rất đúng, không những Thầy Chín bị khổ thân, mà vợ của Thầy Chín cũng khổ lây.

Con người, ở thời đại nào và ở đâu cũng có khổ. Nhưng cái khổ cũng có trăm thứ khác nhau. Người ta khổ vì công danh sự nghiệp hay vì tình yêu và danh vọng. Còn ở cái đất nước bị cách mạng này, người ta chẳng những khổ vì miếng cơm manh áo, mà còn bị khổ vì sự sỉ nhục, khổ vì không được sống như một con người, như mọi người. Người ta phải bán những gì họ có thể bán để sống sót; từ nhân lực, đến nhân phẩm, danh dự, trinh tiết bằng giá rẻ mạt. Thế mà, người ta có được yên thân với sự hèn mọn ấy đâu! Cái xã hội ngập các thứ quan, đũ loại quan, từ anh bảo vệ đến ông quản lý, ai cũng có cái quyền hành hạ, sách nhiễu dân. Dân chúng chỉ còn biết chịu đựng, họ bị biến thể thành một thứ đầy tớ mới của thời đại xã hội chủ nghĩa.

Vẫn chưa xong!

Những đầy tớ này lại còn bị mỉa mai trên diễn đàn quốc tế, trên đài phát thanh, truyền hình, trên báo chí, khắp mọi nơi: họ là "người chủ đất nước".

Thật là một sự mỉa mai!

Một sự mỉa mai thật là cay độc mà dân tộc này chưa từng phải chịu đựng trong mấy ngàn năm lịch sử.

Khi người ta có quá nhiều quyền lực, tiền của, muốn làm gì cũng được, thì họ là luật pháp; ngược lại dân trở thành người bị tước đoạt quyền căn bản làm người. Trong đất nước cộng sản chủ nghĩa này, một nhóm người thì tự cho mình là Dân Tộc, là Đất Nước; hàng chục triệu người còn lại thì đã bị cái nhóm gọi là nhà nước ấy cướp mất chính danh.

Hàng chục triệu người còn lại ấy, họ không là gì cả, họ cũng chẳng biết họ là ai ?!

Mất việc, bị đuổi về nông thôn hay đi kinh tế mới. Vợ chồng Thầy Chín đành bán đồ đạt mà đi. Bán cây đàn banjo kỷ niệm của thời còn trai trẻ, bán đôi nhẫn cưới, bán bộ lư hương trên bàn thờ, bán cả đồ hương hỏa, nhưng vợ chồng Thầy Chín cương quyết không bán chữ Tâm. Người vợ không ngăn được nước mắt, khi thấy chồng tâng tiu, gói cất đôi giày tây đã quá mòn đế, không bán được. Thầy Chín vẫn nuôi hy vọng một ngày nào đó còn cơ hội mang lại, đi cùng anh em bè bạn trên lối xưa đường cũ. Chất mớ đồ đạt còn sót lại lên chiếc ghe tam bản, mượn của hàng xóm. Chồng chèo, vợ bơi phụ. Lần theo con nước, bờ sông, suốt ngày dài. Hai vợ chồng Thầy Chín nhờ trời thương đất độ, nên cũng về đến bến nhà. Từ nay, Thầy Chín cầm lại cái cuốc, làm người nông dân ngờ nghệch, dốt nát chữ nghĩa và rất là mãn nguyện với cái nghề nông của mình; thà dầm mình trong bùn dơ nước đục, mà tạo được hạt gạo trắng sạch để tự nuôi cuộc đời còn sót lại.

Nắng về chiều tuy đã dịu bớt, nhưng cái chói chang vẫn còn trãi lấp lánh trên mặt nước lăn tăn gợn nhẹ sóng. Không khí như lười di động. Cái oi nồng làm người và vật như mệt mỏi hơn sau một ngày vất vả việc đồng áng.

Ông lão ngồi dựa gốc cây phe phẩy nón quạt và nhìn con trâu đang rảo bước ăn cỏ. Nghĩ rằng, hôm nay chắc nó cũng nóng bức khó chịu như mình. Ông lão đứng dậy đi xuống mé ruộng lấp xấp nước, lấy tay vốc nước hất lên mình con trâu. Chẳng màng cho lắm đến những cụm nước như mưa đang rơi phủ, con trâu thở phì phò, uể oải tém nhúm cỏ vào miệng, chẫm rãi nhai đôi hàm qua lại. Chừng như thấy đũ mát, ông lão ngưng tạt nước lội trở lên. Tay xách theo cái ấm nước, tay lấy cái khăn vải mỏng in sọc đen xám ngang dọc trên vai, vừa đi vừa lau cho khô nước trên mặt, ông lão rảo bước sang đám ruộng nhỏ bên cạnh.

Bắt tay làm loa gọi vọng về hướng có hai cha con hàng xóm đang lom khom cuốc trở đất:

- Thầy Chín ơi !

Hai cha con ngưng tay, chống cuốc hướng về tiếng gọi. Nhận ra người quen, Thầy Chín vẩy tay cùng ông lão:

- Về nghỉ hả Anh Một ?

- Dạ chào Bác Một! Thằng Hai tiếp lời cha, chào ông lão.

- Mệt chưa "cậu" Hai! Lão Một cười thân thiện đáp lời, rồi đưa cái ấm nước lên mời gọi:

- Còn ấm trà đây, hai cha con nghỉ tay đi mà,… lên uống miếng nước với tui Thấy ơi.

- Cám ơn anh Một, cha con tôi lội lên đây !

Ngó thửa đất cuốc dang dở, Thầy bàn tính với con:

- Chắc cũng phải một ngày nữa mới xong ! ... Chiều rồi con, thôi mình lên uống miếng nước với bác Một, rồi con còn phải đạp xe về kẻo tối. Ráng giữ mình với chúng nó, con à.

Lấy nấp ấm làm chén, mọi người chuyền nhau uống trà.

Thằng Hai không có kinh nghiệm, nên chỉ ngồi lắng nghe Lão Một và Thầy Chín bàn chuyện ruộng nương với nhau, hơn là góp ý.

Thực ra, ông lão thứ Mười Một. Người quen thân gọi là Một cho gọn. Tóc râu Lão Một đã bạc trắng và chỉ còn sót lưa thưa sau ót. Khi lão cười, răng còn trơ nứu. Người Lão Một gầy dẹp, nhưng cử động vẫn còn nhanh chắc và gọn gàng. Lão Một tuổi cao hơn Thầy Chín cả con giáp. Hồi còn trẻ, sau cái lần vật ngã thằng Cò của đám chăn trâu ở ngang sông, dân làng trong ngoài truyền miệng nhau là Lão Một giỏi võ.

Cò không có chút nào như cái hình dạng của loài chim trắng, khoan thai vươn cái cổ ốm dài mò cá, mò tôm ở ngoài đồng ruộng. Ngược lại, da Cò thì đen ngâm, dáng người dềnh dàng vạm vỡ. Dân làng hay gọi Cò là "Cui", ám chỉ cái sức mạnh và vóc váng của con trâu Cui oai vệ. Gọi là Cui, thế rồi lâu ngày thành danh. Lâu ngày, người ta biết cái danh Cui nhiều hơn cái tên Cò của cha mẹ đã đặt cho.

Vừa nhập trận, Cui ra đòn ngay tức khắc, quờn tay trái thì bàn tay phải đã nối theo bấu ghịt cổ đối thủ. Đối thủ to lớn, không phản đòn lẹ thì chịu đòn nặng, Lão Một đảo nhanh hai tay vào trong, đánh thẳng lên phá cái khoá của Cui. Khi hai tay cuộn rút trở vào trong thì Lão Một đã phản thế, khoá và bẻ lọi hai chỏ, đồng thời tám cái đầu khớp xương cứng cáp trên hai nắm tay cùng đập bật ngược vào xương ngực Cui. Giữ chặc khoá tay, Lão Một gài chân lên, xoay người chịu hong định quăng đối thủ. Nhưng Cui quá nặng và Lão Một thì có phần chậm, nên Cui đã chịu đòn và ghì lại. Thấy vậy, Lão Một bèn buông đối phương, lẹ chân nhảy lùi ra, không cho Cui chiếm cơ hội tiếp tục phản thế. Nhập trận tiếp, lần này tay Cui vừa vớ lấy cổ của Lão Một, đã kéo vít đầu Lão Một vào mình,vòng tay lên cặp khóa cổ đối thủ vô hong, định là để dở hỏng lên, rồi đập Lão Một xuống sàn đình. Lão Một người nhỏ hơn Cui cả hơn cái đầu, bị loạng choạng, nhưng vẫn cố ráng trụ người ghị giựt ngược lại. Tưởng dễ thắng, ai dè gặp đối thủ nhỏ thó mà cứng lì. Cui thấy mình bị mất mặt với đám đông lắm. Nóng bực, Cui ráng hết sức bình sanh, ngã người ra sau, kéo mạnh hơn, như muốn dở bổng đối phương lên cho hàng xóm biết cái sức của mình. Bất chợt, cùng lúc với tiếng hét cướp tinh thần thì Lão Một trở nên nhẹ hỏng, và toàn thân người Lão Một đã phóng bật tới, vai húc vào Cui. Đang trong tư thế bị mất thăng bằng lại bị húc.

Huỵch !

Nghe như là cái bao gạo bị quăng xuống sàn đình, Cui bị đẩy té ngữa, chùi dài ra sau, đau rát cả lưng. Gắng gượng giữ cái ót đừng bị đập, chưa kịp hoàn hồn vía thì Cui đã thấy cái bóng của Lão Một nương đà lộn tròn ra sau đầu của mình. Trong chớp mắt, đầu Cui và tay bị Lão Một khóa. Mọi ý tưởng phá gỡ đòn cũa Cui bị diệt ngay tức khắc bởi cặp đầu gối và đôi tay khoá thật khéo của Lão Một. Lão Một chỉ nhóng người lên thêm một chút, cái đau ở khớp chỏ đã làm Cui phải rũ cả người xuống, buông xụi lơ cánh tay còn lại trên sàn gạch, nhăn nhó la lên xin thua. Lão Một thả tay ra, nhảy lùi ra sau, nhìn Cui chờ đợi. Cui ôm cánh tay xoa xoa khớp xương đau, nhăn nhó lắc đầu không chịu đấu tiếp.

Thế mà, từ đó Cui và bè bạn lại kết thân, hay bơi sang chơi với đám chăn trâu của Lão Một.

Giặc đến làng của Thầy Chín, đội tiền phong của làng thành hình. Hầu hết, họ là thanh niên trai trẻ nông dân. Ngoại trừ bầu nhiệt huyết, chẳng mấy ai biết quân sự quyền cước gì cả, vậy mà họ vẫn tay dao tay gậy hăng hái đi đánh Tây. Rồi dân ở tận làng trong cũng kéo sang giúp sức, trong đó có Lão Một và Cui. Hễ rảnh rỗi, Lão Một kéo anh em ra, dạy cho đánh côn và múa mã tấu.

Khi được hỏi nhắc đến chuyện luyện võ, Lão Một vỗ đùi cười khoan khoái :

- Thầy Chín dạy anh em tụi tui chữ quốc ngữ là chữ thứ thiệt, còn tui chỉ anh em võ nghệ là võ giả ! Tui bày đặt tập võ, để anh em mình khỏe thêm, lên tinh thần mà đánh giặc.. chứ tui nào có biết võ nghệ với lại võ hành cái gì đâu ! ... Thầy dạy võ cho tui là đám bạn chăn trâu, là đào kép, là thầy bán thuốc cao đơn hoàn tán. Không biết sao, cái vụ học chữ tui vừa lười, mà lại chậm nhớ quá !..

A !

Lão Một vỗ vỗ trán mình mấy cái, có vẻ cố nhớ một điều gì, rồi ngó Thầy Chín ngập ngừng:

- Tui nhớ, hồi đó, có lần tui nghe Thầy Chín giãi thích cho ai đó cái câu chữ Tây, cái gì mà đọc nghe như là ...la re son, re nồi chi đó ,

Thầy Chín chậm rãi đở lời:

- La raison est un pot a deux anse, que on peut tenir par une ou autre.

Lão Một vô đùi, cười thích thú:

- Đúng rồi, tui khoái cái câu này nghen...cái lý lẽ nó như cái... bình có hai quay, tui xách bên nào cũng được..hồi đó giờ, tui chỉ nhớ cái ý thôi!

Thầy Chín rót đưa cho Lão Một cái nấp trà, góp lời an ủi:

- Hiểu như anh Một và đã làm được mới có giá trị. Chớ học cho thuộc để nói cho hay không thôi, thì có hơn gì con sáo, anh Một đừng nên trách mình !

Lão Một cầm cái nấp, uống rồi đẩy ấm trà sang mời mọi người, nhắc tiếp chuyện:

- Thiệt tình, nhiều anh em trong làng đọc được chữ. Thằng Mẹo còn biết chép mấy câu Kiều trong sách của Thầy để đọc cho con đào nó nghe. Thiệt tình, tui thấy Thầy Chín hết hơi với tui, vậy mà tui chỉ đọc lõm bỏm. Chữ nghĩa tới giờ cũng còn ba mớ lắm ! Nhưng mà, hể bắt chước học lóm đánh nhau, tui như là có khuyếu hơn Thầy ơi !

- Thầy biết mà, hồi nhỏ đi giữ trâu, cả ngày ngoài đồng với bọn chăn trâu. Hết trò chơi, học lóm nhớ gì thì cứ bày ra trò vật đánh với nhau huỳnh huỵch cho vui vậy mà.

Lão Một vuốt cái trán trần bóng lưởng, cười móm hủm hĩm, hạ giọng:

- Nói chứ, có khi nổi nóng,.. thì cũng có đánh thiệt vậy !

Hễ mà có gánh hát đến, tụi tui rủ nhau lùa trâu ra ngoài đình cho ăn. Thay nhau giữ trâu, còn lại, hết cả đám chui vào đình coi tập tuồng. Thấy cái hay lạ, sinh bắt chước, bọn tui chặt cây làm côn làm đao, đánh nhau u đầu sứt trán, vậy mà vẫn cười vui. Cậu Mợ thấy tui bị thương tích, lại sót ruột, bắt tui cúi xuống quất thêm cho mấy roi rát cả mông, rồi mới lôi dậy thoa dầu xức muối cho.

Tui khoanh tay xin lổi, hứa chừa hôm trước, vài hôm sau lại bị sưng bầm, đi khập khệnh. Riết rồi, thì Cậu Mợ tui hết thèm thăm hỏi hay đánh khảo tui làm gì cho mệt nửa. Nhưng có hôm, mặt mày tui u có cục, miệng méo mó coi tệ quá, chiều về tui cũng không dám vô nhà gặp Cậu Mợ, tui trốn và ngủ ở ngoài chuồng trâu. Cậu Mợ tui, con cái thì nhiều, chiều về lo miếng ăn cho cả nhà, lo cho Út Chị và Út Em là ổng bả đũ bù đầu rồi. Cậu Mợ giống như là không nhớ nổi là tui có mặt hay không. Chỉ cần thấy trâu đi trâu có về, Cậu Mợ biết là tui còn sống chơi quanh quẩn đâu đó.

Thằng Hai thấy cái sống của những anh hùng vô danh sao giản dị, mà cao cả tuyệt vời quá.

Trước nhục nước, Hội Diên Hồng, không hòa, thề quyết chiến, liều thân. Họ ra đi hy sinh mạng sống, giữ nước bảo vệ làng xóm, bình thản như đi làm ruộng, dẫn trâu ra đồng, như bế con, gồng gánh bán buôn.

Bên cạnh xác chồng và thùng lựu đạn. Tay vung lên, chị Phạm Thị Thàng tung từng quả đạn ra ngăn chận biển người của giặc Cộng. Tiếng nổ lấn át cả tiếng khóc hai trẻ thơ bên cạnh. Người vợ lính nghĩa quân thủy chung và dũng cảm ở Đồn Giồng Riềng, đã dành lại trái lựu đạn cuối cùng cho chính mình và hai đứa con thơ.

Rót thêm nước, Lão Một ngó Thầy Chín hội ý, rồi đưa cái nắp nước trà cho thằng Hai, hạ giọng ân cần:

_ Cái bọn quỷ ôn này, cách... mẹ gì. Tụi tui rành cả ruột cả tim của tụi nó, từ cái thời đánh Tây lận, cái diện tù tội của cháu sống với chúng không có yên đâu.... Mà này, cháu đi học chữ làm chi, rồi rốt lại cũng về đây cuốc đất làm vườn làm ruộng hay sao ?... Cái chuyện nhà nông, bọn già chúng tôi, hàng xóm giúp nhau vẫn xong, có khó gì đâu.

Thằng Hai biết Thầy Chín nhờ Lão Một chuyển lời khuyên nhũ.

Xong mùa lúa, Thằng Hai cũng không còn về làm ruộng.

Nó rời Thầy Chín, Lão Một và quê hương ; không bao giờ còn cái dịp để đạp xe trở về, uống miếng trà nguội trong cái nắp ấm với Lão Một.

Hương vị trà chát nguội lạnh, nhưng đượm thắm nghĩa tình, không sao quên được.

Phủi bụi vụn trên móng tay cho Thầy Chín, thằng Hai để bàn tay của cha xuống:

- Dạ xong rồi Ba. Bây giờ Ba cho con cởi vớ để cắt móng chân nghe Ba.

Nhìn con ngồi trên nền nhà, Thầy Chín khom người xuống vuốt tóc con, thăm hỏi:

- Hai à, năm nay con bao nhiêu tuổi, mà sao tóc con bạc hết rồi vậy con.

Thằng Hai ngước nhìn Thầy Chín, khẻ cười và nói cho cha an tâm:

- Dạ, chắc tại tóc của con bạc sớm đó Ba !

- Ờ, mà Ba cũng không nhớ tóc Ba nó bạc tự lúc nào ! Mỗi người, tóc bạc sớm trể khác nhau...

Bỏ dở câu nói, Thầy Chín dựa người vào thành ghế yên lặng.

Thằng Hai không biết Thầy Chín đang nghĩ gì, mắt vẫn ngó theo mấy cái lá đã đổi màu, đang chao mình rơi theo cơn gió thu bên ngoài khung cửa. Ký ức, như là một lối đi xưa, âm thầm đưa dẫn mình trở về miền dĩ vãng.

Xoa cho bàn chân của cha được ấm. Nhìn bàn chân gầy, da khô cằn nhăn nheo, lòng xót xa thương mến; thằng Hai thấy Thầy Chín như những cội thông, không bao giờ chịu đổi màu lá theo thời tiết, vẫn cố vươn mình đứng thẳng và reo vui trong gió bão của thu đông.

Đã bao lần lá rụng,
Vẫn còn kiếp tha hương.
Nay lá thu lại vàng,
Gió hú gào nhớ thương.

Nhớ cha đi miên viễn.
Thương mẹ già sương mai.
Lặng nghe chim gọi đàn,
Mình còn mất những ai?!

CSVSQ Bùi Đức Tính, 323


VĂN CHƯƠNG

Người lính VNCH

Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Khối diễn hành
Bãi tập
Lễ mãn khóa


Đó đây trên quê hương
Here and There In The Homeland
Người còn nhớ hay người đã quên
Những ngày tù chung với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nhìn Của Người Ngoại Quốc

Đêm liêu trai
BÌNH-TUY, những ngày cuối cùng...
Tình Anh Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và hòa bình
Tây Ninh, chút còn lại trong lòng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc sống quả phụ
Thượng Tọa Thích Quang Long
4 ngôi mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi dòng về “Cỏ Thu Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi anh Trìu mến
Thiên bi hùng ca QLVNCH
Để nhớ lại những ngày Mùa Hè Bão Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 - LĐ81 BCD
Trận đánh cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù cộng sản...
Sông Mao, phi vụ ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của tôi...
Khóc một dòng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện tình của một Phi Công
Hai vì sao lạc
Tôi thương nhớ vợ tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Hồi tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Chinh nhân và người tình
Tôi vào học viện Cảnh Sát Quốc Gia
Dọc đường gió bụi
Cảm nghĩ của một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái Bình Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Ðội Thiên Nga
Viết về ngày QL 19/6/2011
Người không nhận tội  
Chào cô ... em gái Biệt Cách Dù
Chuyện tình chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ hỏa lực 6  Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Người không nhận tội
Tháng 4 xót xa
Tìm lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi hờn di tản
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Gãy súng
Chuyện người Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Của Chính Mình
Đại Bàng Gảy Cánh Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy còn đâu?
Vinh danh Tướng Đỗ Cao Trí
Trung Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân trường
Anh trai Biên Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời lính...
Câu chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Dòng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua những tình khúc bất tử của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi - Chúng con vẫn còn đây
Khi người ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hãy thắp cho anh một ngọn đèn
Chiếc áo phong sương tình anh nặng
Người lính VNCH trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những giòng sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư tình của người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Tình Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh "homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nhìn được xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư tình
May mà có em
Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ
May mà có em đời còn dễ thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba dòng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Những xác chết trên mãnh đất chữ "S"
Thân phận người lính gãy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia Trung ...
Những mảnh đời dang dở - phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, phần 6, phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời chinh chiến
Vược ngục
Chuyện tình khoai lang
Tâm tình người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực 19-6-73
Vinh danh người lính VNCH

Linh tinh

Bà xã đai-ét
Chuyện kể: Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi tìm Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất tình
Dấu "Hỏi Ngã" trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi Tây
Ý yêu đương
Đêm qua sân trước nở cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
Tình... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ tình
Mùa Thu qua thi ca  
Phụ nữ Việt Nam qua Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi dòng sông Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi tìm tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những giao thoại văn chương
Xin hãy giúp tôi
Con còn nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ tình
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương  
Đường đi không đến
Xương trắng Trường Sơn
Về lại cố hương
Tự do ơi, tự do!
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà nòi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô chở mùa xuân
Em đi để lại con đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con đường không lối thoát
Những bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái tình
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ còn một ngày để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một mình
Hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Hòa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc tình
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nhìn những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Vì hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Nghìn trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời còn vui vì có chút tòm tem
Đôi mắt Phượng
Ngưòi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
Tình già
Buổi chiều ở Thị trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân tình
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông bạn già năm xưa - English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài vòng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
Tình người
Hồi ký của một người Hà Nội
Tình nghĩa, nghĩa tình
Đôi đũa
Giòng đời... và hồi âm giòng đời...
Không cho phép mình quên
Thảm sát trên đảo Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
Tình ngây dại
Để nhớ để quên