
CSVSQ Bùi Đức Tính - 323
Có tiếng xuồng ghe chạm bên hong tàu, tôi ngưng tay cuốn vòng dây
neo, xoay lại thì thấy Hải vừa cặp xuồng vào, nó ngước nhìn tôi cười
thật tươi:
- Chạy chưa anh Vinh !
Vinh là tên của em tôi. Tôi dùng tên này lúc ẩn trốn trên tàu. Tôi
làm thằng Vinh, dân lao động, phụ việc trên tàu chở hàng với Vũ.
Chúng tôi hầu như chân không, áo quần bê bết dầu máy. Mấy lúc được
rảnh rỗi, thấy thèm nhớ sách báo lắm, nhưng không dám chứa trên tàu
và tẩn mẩn ngồi đọc.
Hải liếng thoắng mai mối:
- Dạ, có hai dì này xin có giang tàu ...
Dì Năm hướng về người đàn bà đang ngồi vịn chặc thành xuồng, dáng
như chưa quen sóng nước lắm, tiếp lời:
- Tui với thím Bảy đây có giang ra ngoài xóm trạm nghen mấy chú.
Cho bà con có giang tàu là việc bình thường, tôi mời khách:
- Lên, lên tàu đi hai dì, tàu phải chạy đi lấy nước đá bây giờ…
Đang kiểm máy móc, nghe lời qua tiếng lại, Vũ đứng lên trên nấp hầm
máy, nhóng người qua khung cửa trổ lên mui để xem. Thấy Hải, Vũ hỏi
thăm:
- Ê Hải, mấy đứa bây sáng nay nay đâu hết rồi, có đứa nào muốn vác
nước đá hong vậy?
- Tụi nó chèo lợi đẳng trước hết rồi anh Vũ ơi, tui thì mắc chở hai
dì này lại đây nè!
Hải đã quen nghề rồi, miệng nói tay lần chiếc xuồng ra sau đuôi tàu
cho thấp, và giúp khách lên tàu. Dân đi buôn có giang tàu xuống xóm
trạm, tức là cái xóm nhỏ có chợ quán ở quanh đồn công an biên phòng,
để mua lỉnh kỉnh các thứ tôm khô, cá khô … về bán lại kiếm chút lời.
Chạy không cũng phí, miển là tàu còn chỗ trống, ai cần chúng tôi cho
lên tàu hết. Dì Năm đi buôn thuờng, tôi biết bà dì này, nhưng người
bạn của dì thì tôi chưa từng gặp. Nhìn Vũ và dì Năm cùng giúp cho
người đàn bà này lên tàu thì khó mà tin bà là bạn đi buôn, là dân
chuyên nghiệp hay theo ghe tàu. Bộ dạng thanh nhả và nhút nhát sóng
nước như thế này, thì chắc bà là dân chỉ quanh quẩn nơi thành thị mà
thôi, tôi ngẫm nghĩ.
Khách rời xuồng xong, không cần hỏi han hay ai kêu bảo, Hải đã xếp
xuôi đôi chèo lên xuồng, leo gọn lên tàu. Nó vòng dây quấn vào móc
sau đuôi tàu để giòng chiếc xuồng của nó theo, khỏi mất công chèo
đến hãng nước đá.
Thấy mọi người đã yên chỗ, tôi cuốn lẹ tay cho xong dây neo, rồi nới
lỏng sợi giây cột mũi tàu. Tôi ngó Vũ đang đứng chờ trên hầm máy:
- Cho máy chạy đi anh Tư!
Trong gia đình thì Vũ thứ Tư. Vũ là một trong tám đứa ăn cơm chung
một mâm với nhau, suốt những năm còn trọ học ở Ký Túc Xá. Năm 72,
tôi gặp lại Phát (U.N.P.), cùng chung Đại Đội 32 Khoá Sinh, không ăn
chung "bốn người một mâm", chung …Nhà Bàn. Rồi Vũ cũng vào quân đội,
bảo trì trực thăng. Khi tôi đi tù về, gặp lại nhau thì Phát và Vũ
đều có vợ và bồng con; tôi tôn lên làm đàn anh hết, gọi Vũ là anh
Tư.
Cái máy dầu cặn gầm lên khởi động, rồi bắt trớn ngoan ngoãn chạy
ngay. Tiếng máy nổ ấm, nhịp nhàng thật dễ thương.
Động cơ tàu được lấy ra từ chiếc máy cày hiệu John Deer cũ, ráp vào
tàu được gần hai năm nay rồi. Tám máy đẩy chiếc tàu trọng tải mười
lăm tấn cũng không quá tệ. Hồi tháng trước đây thì cái head gasket
bị cháy, neo tàu cả tuần để chờ xoay kiếm đồ phụ tùng. Theo bạn ghe
đồn chỉ, Vũ mò sang Vĩnh Long và tìm được người biết làm gasket. Dựa
theo tấm giấy mà chúng tôi đồ theo hình dạng có đủ vị trí lỗ ốc rãnh
trong máy, kèm với miếng gasket đã bị cháy, người thợ già chế biến
cái mới cho chúng tôi. Khó tính đến đâu, thấy miếng gasket sáng
bóng, gồm nhiều lớp nhôm mỏng đã cuốn ép thật tỉ mỉ, cũng phải thán
phục tài khéo tay của ông. Trong tình trạng khan hiếm phụ tùng lúc
này, quả thật, ông chính là vị cứu tinh, là đại ân nhân; còn việc có
bền được bao lâu thì đành chịu phó thác cho thời vận. Vũ đặt làm
luôn ba miếng, để phòng hờ trên tàu. Cầu mong sao, ngày ra đi, cái
máy nó vẫn thương giúp chúng tôi, chạy thật ngoan như hôm nay.
Điều khiển tàu còn chút lượm thượm, trông quê mùa, nhưng che được âm
mưu vượt biên, ít bị lưu ý. Cho nên, khi rời và cặp bến, cần có
người đứng gần máy sử dụng clutch để đổi số, vô số giống như lái…
máy cày vậy! Vũ giỏi về máy, đứng bên dưới lo phần chạy máy, sang
số. Người giữ tay lái trên mui, thì chỉ có cái cần gia giảm tốc độ
mà thôi.
Lúc lái tàu rời bến nhà là có định trốn đi, nhưng toán đưa đón người
bị thất lạc nhau, chậm trể, âm mưu vượt biên bất thành. Đem tàu quay
trở về bến nhà thì bị bắt, chỉ còn cách là ẩn náu quanh quẩn nơi
đây. Chúng tôi di chuyển tàu từ bờ này sang bến khác, và ráo riết
làm quen ghe tàu xung quanh tìm mối chở hàng ngày, để tránh tai mắt
của tụi công an địa phương và kiếm cơm cháo sinh sống chờ cơ hội
khác may mắn hơn.
Chở hàng nào cũng có cái sướng và cái khó riêng của nó.
Chở cá khô cho hợp tác xã thì nhẹ nhàng, khuân vác khoẻ re! Đến
chừng giao hàng xong, dọn rửa ghe thì mới trắng mắt ra! Y hệt như là
cái giống cộng phỉ; giòi ăn bám, đụt khoét, rút trốn trong khô, rồi
thừa cơ hội yên tĩnh, chúng nó theo nhau ló đầu ra, lễnh nghễnh
trắng lòng tàu và chui len lỏi cùng khắp kẻ kẹt dưới khoan.
Dọn rửa tàu, thở hụt hơi, ngán ngẩm cái giống giòi bọ bẩn thỉu !
Từ đó, chán ngán đến nổi cứ thấy mặt lũ cộng nô và cái đám đón gió
trở cờ súc sinh, là lại thấy đám giòi bò lúc nhúc. Tôi thà uống rượu
khan, nhất định không cắn răng vào miếng khô của hợp tác xã.
Chở cây rừng, bốc vác nặng và trầy dập người chỉ là việc nhỏ, còn
thua xa cái thời bị tù đày, đói mệt bơ phờ hốc hác mà mỗi chiều tối
còn phải vác cây rừng, lội về trại. Cái khó là chở ít thì trông
không giống ai, không giống ghe tàu cùng chạy trong đoàn, bị trạm
biên phòng nghi là tàu đi dọ đường để vượt biên. Để bị xét hỏi tới
người trên tàu, thì chắc chắn là tôi bị bắt và anh em chung tàu bị
liên luỵ, nên đành phải chở cho giống như… dân làm ăn! Tàu chở khẳm
nặng và người lái thì toàn là dân "a-ma-tơ" mới kinh nghiệm sông
biển. Canh sóng gió, canh con nước trở, canh neo,… sơ suất là chìm
tàu ngay. Lo sợ mất ăn mất ngủ !
Xong chuyến cây, mừng vô cùng. Vũ sắp ngay hương hoa cúng tạ ơn thuỷ
thần đất trời, nhớ danh xưng nào van vái tạ ơn hết và chẳng dám đi
làm chuyến thứ hai.
May sao, chúng tôi chạy lo được cái mối chở hàng cho công ty xuất
cảng. Công ty yêu cầu phải làm thêm mui lá để che tôm cá và nước đá
trên khoan. Thêm được một cái may, có lý do để che khoang tàu, sau
này sẽ giúp cho việc che dấu người lúc trốn đi rất nhiều.
Tàu có ba người. Anh Ba, anh của Vũ, về quê nhà thăm gia đình, nên
mấy hôm nay tàu chỉ còn hai đứa. Vũ đứng máy và sang số, tôi lái và
chịu mũi.
Chờ cho máy chạy đều tốt một lát, Vũ đứng ló người lên trên mui, vịn
cần sang số và gọi vọng ra ngoài mũi tàu:
- Chạy, bác tài !
Nghe gọi, tôi tháo hẳn dây, lấy sào chống xoay mũi hướng ra ngoài
sông, rồi chạy lẹ trên miếng be của thành tàu xuống đuôi, để leo lên
mui giữ cần lái. Chuyến đi, tàu đến hãng nước đá, lấy nước đá chở ra
trạm ở ngoài biển. Chuyến về, xuống tôm cá đã ướp nước đá xây, chạy
về giao cho công ty ở tỉnh. Cần từ bốn đến sáu giờ chạy từ sông ra
biển, để ra đến trạm. Khi hải sản từ trạm về tới công ty, giai đoạn
kiểm hàng và lên hàng, có nhanh cũng phải hơn hai tiếng. Hàng lên
xong, dù là hai hay ba giờ sáng cũng phải lo rửa tàu cho sạch, không
thì nước tôm nước cá chảy ra đã nằm ứ trong khoang cả ngày rồi, sẽ
sình thối lên. Không thề làm biếng !
Mỗi chuyến, ba anh em chúng tôi xuống khoảng 150 cây nước đá. Cây
nước đá có phần nhẹ hơn bao xi-măng, nhưng hơi phiền khi đi trên cái
miếng ván gác dài từ trên bờ đến mũi tàu. Miếng ván bị nhồi lên sụp
xuống bất chừng theo nhịp đi của nhiều người, và sóng thì cứ lắc lư
con tàu. Cây nước đá vừa trơn lạnh, vừa cứng, sút tay rớt cấn lên
bàn chân trần trụi không giày dép thì cũng ngán lắm. Thấy vậy, vác
nước đá riếc rồi quen, hết ngán. Mấy đứa chèo xuồng như Hãi vác nước
đá rất nghề.
Nước đá, khi giao cho trạm thì nhân viên chỉ đếm kiểm đầu cây. Cây
đá dài ngắn, họ dư biết, nhưng có ăn nhậu giao thiệp với nhau, thì
họ dễ dãi bỏ qua hết, miễn đừng làm gì quá đáng. Có cớ vác tiếp nước
đá, thì Hải và bè bạn vào trong tàu chặt nước đá, đem bán kiếm thêm
tiền nuôi gia đình.
Hải ngồi thòng chân đong đưa với những cuộn sóng vòng lên sau đuôi
tàu, trông chừng chiếc xuồng con của nó, than vãn:
- Mấy anh biết hông ? Chuyến rồi, tụi tui chia nhau hỏng tới đâu
hết, kỳ này...
- Ba đứa tụi bây, chặt hết bốn năm khúc nước đá mà mày dám than là
hỏng tới đâu. Cho tao nửa khúc của tụi bây thôi, ba anh em tao có hủ
tiếu, có cà phê sữa đá và còn chơi cả thuốc ba số năm, tụi mày sạo
tổ mẹ. Tới ... thấy bà, chớ mà hỏng tới, mậy !
Bị Vũ ngắt lời, Hải cười hề hề, rồi lại kèo nài thêm:
- Hôm nào lên tôm, anh cho tui vô hốt một mớ, cho bà nội tui bồi
dưỡng nghen anh.
- Ừ,... mày lên kêu Ba Tơ xuống đây hốt tao với thằng Vinh luôn cho
gọn. Giỡn mặt hoài mậy ! Bộ mày hỏng thấy mấy đứa áp tải, nó đứng
thò lõ cặp mắt kiểm hàng à !
Ba Tơ coi bộ phận chuyên chở, ký giấy phép cho ra biển, ký sổ hàng
của tàu chở hàng, dĩ nhiên là phải theo nguyên tắc phổ thông ''đầu
tiên'', tức là tiền đâu. Cơ quan nào cũng thế, quan nào cũng vậy,
biết điều có phong bì, quà biếu thì có chuyến đi; không thì neo tàu,
húp cháo, nằm ngó sóng nước. Công việc thì chỉ có vậy, nhưng Ba Tơ
thích đeo cây K54, xuống bến tàu, la hét thị oai xua đuổi đám xuồng
đưa khách, như Hải, không cho lảng vảng gần tàu chở hàng cho công
ty, trông rất uy quyền từ cái văn phòng trên công ty xuống tới dưới
bến cảng. Hắn rất hăng say, làm cả những công việc không phải của
hắn như chiều chiều sách súng đi theo tàu công an tìm bắt tàu vượt
biên. Cơ hội để vừa lập công, thêm thành tích, mà lại thêm tiền vàng
ăn cướp từ những nạn nhân vượt biên bị bắt.
- Ê Hải, bây giờ tao không có tôm tươi, tao có nồi mực kho nè, chịu
thì vô đây làm miếng cơm với tao cho vui.
Nghe Vũ gọi, Hải lẹ làng lau khô chân, chui tọt vào trong mui, quên
mất phải trông chừng chiếc xuồng của nó, miệng ngọt xớt :
- Để đó em, để em dọn cơm cho anh Vũ !
Hải sống với bà nội ở bên kia sông, chúng tôi chưa nghe mà cũng
không ai hỏi thêm về cha mẹ của Hải. Cùng trang lứa mười bốn, mười
lăm tuổi, Hải và bè bạn đã nhiều năm mưa nắng chèo xuồng đưa khách
sang sông, lúc ế khách thì la cà trên bến, xin khuân vác phụ việc.
Mấy đứa nó khôn lanh, lẹ làng, chịu khó, nhưng lắm lúc vẫn còn vướng
vất nét thẻ thơ rất tội nghiệp. Tôi giảm tốc độ cho bớt sóng và ngó
cầm chừng chiếc xuồng hộ Hải.
Đã gần chín giờ sáng rồi mà trời vẫn còn u-ám, có lẽ trời sắp mưa.
Sáng sớm, tiết trời cuối năm sẽ lạnh, lại mưa, lại phải vác nước đá
! Ngó chân trời, tôi mong cho đám mây đen chậm kéo tới, chờ xuống
nước đá xong hãy mưa.
May là sáng nay, hãng chỉ có một trăm cây nước đá, nên khi xuống
xong thì mưa mới bắt đầu lâm râm. Vũ và tôi đứng nghỉ tay hút thuốc,
rồi phụ nhau che khối cây nước đá trên tàu.
- Ra biển mà mưa, tao chán quá.
Vũ lầu bầu, để tấm ny-long lên đống nước đá:
- Còn một tấm, mày đậy luôn giùm tao cho rồi. . . Giờ này không thấy
mấy đứa trên công ty, chắc là không có đứa nào đi theo rồi. . . Kệ,
tao phóng lẹ lên quán lấy một lít phòng hờ.
- Xách vài ba lít đi ! Lát nữa tới trạm biên phòng, tụi nó đi theo
tàu, mầy có mà đổ cho tụi nó đi kiếm chỗ ngủ, tao đở phải nghe lải
nhải ba cái đồ "hồ hởi" "phấn khởi", xốn lỗ tai lắm.
- Ráng nhịn, mày !
Vũ vỗ vai tôi:
- Tụi mình còn bà con đang trông cậy. Đừng để hư bột, hư đường, mậy
... Tao đi mua rượu rồi mình dông.
Vũ thay cho người chú, trông coi tàu để chờ cơ hội mang gia đình đi.
Thân với nhau từ lớp tám. Nhờ Vũ thương bè bạn và dám che chở cho
thằng bạn tù trốn quản chế, tôi mới có được chỗ ẩn náo trên tàu để
chờ dịp trốn đi. Xuống đây, nhằm tháng ba, " bà già đi biển ", vậy
mà chiếc tàu chưa ló mũi được tới cửa biển. Đã biết bao lần ra vào
cửa biển như hôm nay, vẫn chưa biết bao giờ sẽ là lần vượt trốn. Lo
lắng, mong chờ, nhưng phải tuỳ thuộc vào gia đình chú của Vũ. Sống
gần cửa biển, tất nhiên có nghe thấy thảm cảnh của đồng bào vượt
biên. Biết mà không giúp được cho đồng bào bị thảm hại, cái uất ức
cứ vương vấn hành hạ lương tâm mình. Đêm nghe tiếng súng ngoài biển,
thảng thốt ngồi bật dậy nhìn đêm đen, tôi nghe có tiếng trách hờn,
xót đau lắm.
Trời cuối năm thường không mưa nặng hạt và dai dẳng, nhưng tàu hướng
ra biển, chỉ thấy trời âm-u thôi, đúng như Vũ nói, cũng chán thiệt !
Nước sông đang đổ ra biển, mực nước ròng thấp xuống khá nhiều. Khi
nước lớn đầy sông, những cây cọc đáy bị gãy đứng ngầm bên dưới mặt
nước đón lườn tàu, bây giờ chúng đâm đầu lên nhấp nhô trên mặt sóng.
Tôi giữ tay lái xem chừng để tránh và ôn nhớ vị trí tất cả cọc đáy
dọc theo sông. Đây là một trong ba tuyến đường tôi cần ghi nhớ, để
đêm trốn đi, tàu sẽ phải chạy ra cửa biển mà không được dùng đèn rọi
để tìm tránh cọc đáy, ngán nhất là các cọc đáy ngầm.
Phía trước có chiếc xuồng đang hướng ra chợ. Cô gái nghe tiếng máy
tàu phía sau, từ xa đã ngưng tay chèo, nép xuồng sát vào bờ. Thấy
vậy, tôi cũng hạ thấp tốc độ máy, cho bớt dậy sóng, khi tàu chạy
ngang qua. Cánh áo đã bạc màu, sắc tím lan đây đó phơn phớt, mộc mạc
như đoá hoa lục bình ven sông. Cho tàu chạy thật chậm, nhẹ lướt qua
chiếc xuồng. Ngó sang, thấy xuồng chở đầy dưa hấu, tôi lên tiếng
chào hỏi:
- Cô ơi, dưa đã có mối chưa cô ?
Trong màn mưa lất phất, có đôi mắt ngước nhìn lên e-dè:
- Dạ . . . có rồi . . . biếu . . . chú một trái ăn Tết cũng được.
- Chúng tôi xin mua một cặp được không cô ?
Cô gái kéo nón che đôi mắt, ấp úng:
- Dạ . . . má . . . rầy !
Tôi nhìn vói theo xuồng đang xa dần ra phía sau:
- Cám ơn cô ! . . . Cô cho tôi kính lời thăm má, sang năm mới mua
may, bán đắt nhé !
Bên dưới vành nón lá, nụ cười bẽn lẽn còn mọng ướt hạt nước mưa.
- Ê, Làm một điếu cho ấm đi.
Nghe gọi, tôi xoay lại, thấy Vũ đưa cho điếu thuốc đã mồi sẵn.
Tôi cám ơn Vũ, cầm xoay điếu thuốc vấn vào trong che mưa, để đóm lửa
con con sưởi ấm lòng bàn tay. Điếu thuốc rê, hơi khói nặng đặc
quánh. Thà vấn thuốc rê mà hút, tôi ghét căm cái nhãn hiệu thuốc hút
có cái tên rất là dị hợm: Sài Gòn giải phóng. Chẳng cần biết thuốc
hút ngon hay dở ra sao, tôi ghét chữ "giải phóng" của chúng nó, đâm
ra ghét lây gói thuốc thế thôi. Thà nhịn thèm, tôi ghét hút cái thứ
có chữ "giải phóng" quỉ quái đó. Hồi trước, nhằm lúc mới lãnh lương,
dừng quân có chợ quán là tôi tìm mua một gói Pall Mall. Tôi mê nhớ
điếu thuốc có dáng thon dài, thơm nồng nàn, thật tuyệt ! Bây giờ,
tôi ước gì có được điếu thuốc Basto Quân Tiếp Vụ !
Trên mui, trống thoáng, gió đùa khói thuốc tạt qua thật nhanh, tôi
nói với Vũ:
- Sắp tết rồi !
Bao nhiêu cái Tết, tôi không về với gia đình? Tết trong rừng bụi,
Tết trong tù và thêm một năm nữa, một cái Tết lưu lạc lẩn trốn trên
chiếc tàu này. Rồi khi tôi rời quê hương, bao giờ thì hết loài quỷ
đỏ, để được cùng đồng bào tôi đón Tết, mừng xuân quê hương !
- Ừ, mau quá !
Tiếng Vũ trầm buồn.
Tôi nhìn Dì Năm và bà bạn đang ngồi trước mũi tàu, áy náy:
- Hai bà này ngồi dầm mưa trông kiếm cái gì đó bên kia sông ?
- Tao mời vào trong này cho đỡ gió mưa, rồi cũng trở ra ngồi miết
ngoài ấy. Mày xem, mình để ý hỏi thì mấy bà có bao giờ dám nói cho
người lạ như tụi mình nghe đâu, nhiều khi còn làm cho mấy bà lo ngại
. . . Mà, cũng gần tới xóm trạm biên phòng rồi, hai bà cũng lên trên
bến đó. Thôi, tao xuống chuẩn bị giấy tờ để đi trình ra biển.
- Ừ, chỉ qua cái vàm lục bình đàng trước !
Tôi chợt nhớ ra, ngó theo hướng nhìn của hai người khách, cho tàu
chạy chậm lại và áp sát bờ hơn. Phía vàm lục bình, đất bồi nên cạn
lài ra, tàu chở nặng, không thể chạy quá gần. Dọc theo bờ sông, dãy
lục bình đang lao xao đón làn sóng gợn đưa vào. Trên thảm lá xanh
mướt sau cơn mưa, sắc hoa tím điểm nhuỵ vàng trông càng tươi thắm.
Những mầm sống này trôi dạt lửng lờ từng mảng theo giòng nước; như
có hẹn nhau, chúng gom tụ vào đoạn sông gần cửa biển này, rồi nấn
níu nhau, không chịu rời đi nơi nào khác.
Không rõ từ hôm nào, bên dãy lục bình dày đặc, mấy ngày nay lại thấy
nổi phập phìu một phần lưng áo sơ-mi ngắn tay có sọc vuông màu nước
biển. Cái quầng nâu sậm gần cuối lưng, không rõ là do vướng đất phù
sa hay là vết máu. Mặt nạn nhân nằm úp xuống nước, nên khó định được
dạng tuổi. Sau những lần nghe tụi biên phòng rượt bắn tàu vượt biên,
thì thỉnh thoảng lại thấy có xác người nổi lên, trôi dạt và thường
vướng vào đoạn sông này. Lũ man rợ muốn như thế, cứ để thi thể trôi
nổi hay bị cuốn ra biển khơi mặc tình; để đe doạ những người đang
mưu toan vượt trốn, và rình chờ thân nhân đến nhận xác để ăn tiền,
ăn trên xác chết của nạn nhân.
Hôm nay, đã sắp qua khỏi vàm lục bình rồi, mà sao tôi vẫn không thấy
màu áo sọc xanh nữa. Để tàu chậm chậm chạy theo giòng nước, tôi thẫn
thờ nhìn theo những vệt sóng phía sau vẫn còn đang nối nhau chạy vào
bờ rì rào tìm kiếm. Ngoài mũi tàu, Dì Năm kín đáo vỗ về người bạn
đang gục đầu cố nén dấu tiếng khóc trong đôi bàn tay. Dáng thân gầy
guộc của người đàn bà bất hạnh giờ chùn rũ xuống, run rẫy, chơi vơi;
trông thật tội tình với những mất mát đớn đau, mà thời gian sẽ không
bao giờ mang lại được an lành.
Không biết thi thể của người đàn ông vương ven bờ, bây giờ đang trôi
chìm nơi đâu ? Mùa xuân hy vọng mà ông đi tìm, đã vĩnh viễn
theo ông chìm vào hư vô. Rồi đây, mùa xuân có còn trở về trong nước
mắt của những người thân thương còn sót lại? Hay mỗi năm xuân đến,
ngày Rước Ông Bà về vui xuân, chỉ còn là mâm cơm chiều để nhớ ngày
giỗ kỵ và ánh nến trắng tang thương vẫn đốt cháy thiệp xuân hồng.
Tôi thấy mắt mình cay xót, nghẹn đắng lời và giòng nước đổ ra biển
đang cuộn dậy, sôi sục sóng uất hờn.
Đêm thật dài, giấc ngủ chập chờn chóng vánh theo thân tàu đang nương
theo sóng. Tôi khẻ trở mình trên hai miếng ván ghép lại làm băng ghế
ngồi lái tàu, và cũng là chỗ ngủ của tôi. Trên băng ghế có mái che
nhỏ, đũ che nắng và sương. Hôm nào không mưa to, tôi ngủ trên mui.
Tuy phải chui vào nóp để tránh muỗi, nhưng nằm trên này trống
khoáng, nghe thấy được tình hình lùng xét của công an từ xa, nhanh
lẹ hơn là nằm trong mui kín bít bùng. Rờ lớp đệm làm nóp đã thấm hơi
sương lạnh ướt, tôi đoán chừng chắc cũng gần sáng rồi.
Hồi tối, Vũ rót hết phần rượu trong chay vào chén đẩy sang tôi:
- Hết mẹ nó rồi! thôi …tao với mày …chia hai nghen mậy, … mai, mà
không mắc sửa máy, tao… tao đi kéo thêm chay nửa mới đã phải hong
mậy !
Như phần rượu còn sót lại, bạn bè chia nhau uống lần này, biết đâu
cũng là lần sau cùng.
Hôm nay không phải là ngày sửa máy. Vũ cố ý mượn rượu giả say nói
lớn tiếng cho các ghe tàu đậu kế cận nghe để họ không lưu ý dòm ngó
khi chúng tôi bỏ chuyến, nằm bến cả hai ngày.
Theo đự tính, sáng hôm nay từ chuyến xe đò rời bến sớm nhất, gia
đình và thân hữu sẽ tuần tự đi đến các điểm hẹn, rồi sẽ xuống tàu
theo từng nhóm nhỏ và phương cách khác nhau. Trưa hôm qua, anh Ba,
anh rể của Vũ đóng vai chủ tàu và là tài công chính, đi báo với
phòng vận chuyển là máy tàu bị hư, không nhận đi chở hàng. Với cớ
máy hư, anh Ba nói là phải về thành phố tìm mua đồ phụ tùng, để về
thu xếp đem vợ và hai con đi theo. Dưới tàu, phần Vũ và tôi tháo nấp
máy, bày biện dụng cụ và đồ phụ tùng, tạo cảnh máy hư. Thỉnh thoảng,
chúng tôi tay lem luốc dầu máy, thay nhau đi tìm mượn dụng cụ ở các
ghe đậu quanh, như đang lo sửa máy. Thực ra, chúng tôi chỉ kiểm điểm
lần chót tất cả hệ thống bơm nước và vận chuyển từ máy ra ngoài chân
vịt, để sẵn sàng cho chuyến vượt đại đương.
Sau những tháng ngày dài ngấm ngấm tìm tạo điều kiện, tìm cơ hội để
vượt thoát, chú của Vũ đã quyết định ngày đi. Tối nay, chiếc tàu
3392 này sẽ làm một chuyến vận chuyển mà không bao giờ trở lại quê
hương yêu dấu.
Tôi trăn trở, đi là trốn lánh, xa rời quê hương, bỏ lại đồng đội
chiến hữu. Rời bỏ quê hương là bỏ mất những gì cao quý nhất.
Một lần đi, có lần trở lại ?
Nhưng ở lại thì tiếp tục bị tròng cổ, trói tay, cùm chân trong cái
lao tù mới, chúng nó gọi là quản chế. Ngày lại ngày, đường tương lai
bí cùn, đen thẩm và là chuỗi ngày dài gánh nặng âu lo của gia đình.
Nỗi thương nhớ ba mẹ và các em ray rứt trong lòng, gia đình đã hy
sinh cho tôi rất nhiều để có được cơ hội vượt thoát như hôm nay. Từ
khi ra đơn vị, chỉ một lần về phép. Ngày đì đường, chưa trọn ngày
còn lại với gia đình. Thăm mừng chưa xong đã đến lúc từ biệt. Trở
lại đơn vị, Chuẩn Úy Tuyết thay tôi dẫn đon vị đi đổ toán, đạp mìn
cụt chân trái. Chỉ bốn ngày trước khi Tuyết đi phép kết hôn! Thiếu
người, tôi phải theo toán đi ngay, không kịp đi thăm Tuyết, trước
khi bệnh viện chuyển Tuyết đi. Lần đi phép duy nhất, gia đình thấy
mặt, rồi tôi lại biệt tăm. Ba mẹ trông mong tin tức, không biết tôi
còn sống sót hay bỏ xác nơi đâu. Khi tụi cai tù "quản giáo" cho gởi
thư thì gia đình mới biết là tôi đã bị bắt từ trưa ngày 30 tháng Tư
và đang bị tù đày.
Tháng Tư Đen là địa ngục trần gian!
Là tang tóc đổ lên đầu dân Việt!
Hôm nay, nhìn lại đã gần hai năm ẫn náo trên tàu. Nhớ hôm đạp xe vào
ruộng, từ giả ba mẹ để xuống tàu ẩn náo và tìm cách vượt biên với
Vũ, ba ân cần đưa cho tôi non chục trứng gà:
- Con mang xuống tàu cho mấy anh em lai rai.
Từ khi ba tôi bất cộng tác, không chịu giãng dạy học trò theo giáo
điều của bọn cộng phỉ, bỏ trường lớp về nông thôn làm ruộng, ba mẹ
tôi sống chật vật lắm. Đi tù về, thân phận tôi, tôi lo còn chưa
xong, nói gì đến việc đáp đền ơn sinh thành dưởng dục Thái Sơn.
Trứng gà còn hơi ấm, ba mới lấy ra từ ổ trứng đang ấp, tài sản rất
lớn của ba mẹ tôi trong lúc này. Tôi cố cầm giữ xúc động:
- Con cám ơn Ba và Vú. Ba cho phép con đưọc để trứng lại, để gà mẹ
ấp tiếp tục, tội nghiệp công của gà mẹ lâu nay… Hoàn cảnh nhà mình
sa sút anh em đều biết. . . Ba và Vú tha lỗi cho con đã không phụ
giúp mẹ cha trong ngày cao tuổi và lúc gặp khó khăn.
Mẹ tôi quay đi, bước vội vào nhà bếp. Mẹ đi tránh dấu nước mắt khi
nghe tin phân ly; dù mẹ đã từng hối thúc tôi tìm đường vượt biển và
biết trước sẽ có lúc tôi phải đi. Tình mẫu tử suối nguồn dạt dào.
Mới những năm vừa qua, mẹ đã bao lần lội ruộng, băng rừng, ngủ vất
vưởng qua đêm chờ sáng vào thăm con. Bây giờ, con lại ra đi, lần này
từ biệt hay là lần vĩnh biệt.
Ba quen trầm tỉnh nhận giữ mất mát:
- Con chỉ cần lo sao cho các em sớm đoàn tụ là Ba và Vú mãn nguyện
lắm rồi. Anh em dưới tàu cũng thừa biết, có thời gian nên tính toán
cho thận trọng, làm một lần cho thành công. Ba hay nói đi nói lại
câu nói của anh hùng Nguyễn Thái Học, con ghi nhớ: "Không Thành
Công, cũng Thành Nhân"
Ba đưa tay cho tôi bắt. Tôi ngạc nhiên, cầm lấy bàn tay của Ba và
nhìn ánh mắt nghiêm nghị của Ba:
- Con xin hứa! Cám ơn Ba rất nhiều. Xin Ba và Vú giữ sức khoẻ chờ
con. Con thoát được thì gia đình mình sẽ đoàn tụ.
Nghe tiếng tôi bước vào gọi tìm, Mẹ gạt nhanh nước mắt, nhìn tôi
cười cho tôi yên tâm:
- Củi còn ướt, khói quá, làm cay mắt Vú. . . Thấy cũng chiều rồi, Vú
tính làm miếng cơm, cho cha con ăn. Ba khuyên nên để con đi sớm,
không nên nấn ná trong xóm này lâu. . . Thôi, con đi với anh em mạnh
giỏi!
Đến lúc này, tôi nghẹn lời, nhìn mẹ tôi giữ nụ cười qua màn nước
mắt.
Tiếng dân chúng chở hàng ra chợ buôn bán nghe nhộn nhịp hơn, tôi hé
nóp nhìn những ngọn đèn dầu trên ghe xuồng, lung linh nhấp nhô theo
nhịp bơi chèo ngoài sông.
Không ngủ thêm được, nằm cũng không yên, tôi chui ra khỏi nóp, quấn
mền ngồi đốt thuốc hút.
Sáng sớm, bến tàu thật yên tỉnh. Hàng đèn vẫn còn đó, ánh sáng vàng
buồn quen thuộc trong đêm đen; thân gầy guộc đứng gục đầu nhìn sóng
nước, tiếc sao mình không được làm một con tàu, như những chiếc đang
cột chen chút nhau quanh bến, biết đâu sẽ có một ngày nào đó, được
cùng thuyền nhân vượt thoát đến bến bờ Tự Do.
Hôm nay trời không mưa, gió lặng, sóng nước thật yên bình.
Tôi nhìn ra hướng cửa biển, bâng khuâng lo lắng, thầm cầu nguyện ơn
trên cho yên bình đến tất cả thuyền nhân, với chuyến ra khơi của
chúng tôi.
Có tiếng động bên dưới mui tàu, chắc Vũ cũng không ngủ được, đã thức
dậy sớm. Tôi ngồi nán lại, hút cho hết điếu thuốc. Muỗi ở đây trông
như như đã quen hay cũng ghiền khói thuốc. Mới ngồi dậy đốt xong
điếu thuốc thì chúng nó ào ào kéo nhau bâu bám khắp nơi có da thịt.
Lấy tay đuổi chỗ này, chúng đáp vào nơi khác. Tôi bất cần, bỏ mặc
chúng châm chít, cứ ngồi thưởng thức điếu thuốc đầu ngày, nghe chúng
vi vo bên tai:
- Như thế này là nhất rồi, hồi bị tống vào trong connex làm gì có
nóp, có mùng mền.
Nhìn cái bụng con muỗi phình to tròn mà vẫn cấm chúi đầu đâm hút
trên tay tôi:
- Lũ ruồi muỗi chuột bọ chúng mày y hệt như loài súc sinh cộng phỉ,
hở ra là bâu vào cắn hút máu mủ để sống!
- Ê!... Vinh!... Cà phê, mậy!
Vũ hé nấp mui tàu, gọi tôi trở về với thực tại.
Lấy mền quạt mạnh xua đám muỗi bay cho xa, tôi thả người tuột lẹ
xuống mui rồi đậy nấp mui lại.
Ghe tàu đậu kế cạnh còn yên ngủ. Như phòng chung vách ván, chúng tôi
dùng bút viết để bàn tính thêm những việc cần thiết cho chuyến đi
hôm nay. Chưa được hai năm, nhưng mong đợi làm ngày tháng thấy dài
đăng đẳng, rồi đến ngày ra khơi thì lắm việc phải làm cho kịp với
thời gian.
Cảnh tượng đồng bào vượt biên đã phải trả cái giá cho ước vọng tự do
bằng oằn người chịu đựng trận đòn thù tra tấn, bằng sinh mạng của
mình, tất cả uất hận nằm trong ký ức, giờ trỗi dậy, nghe xót đau
chừng như mới vừa hôm qua.
Đã qua gần nửa thế kỷ, hình ảnh "thuyền nhân" Vinh vượt tuyến tìm Tự
Do trong phim "Chúng Tôi Muốn Sống", từ giữa thập niên 1950, cùng
tất cả các chứng tích và tội ác man rợ của chế độ cộng sản hảy còn
đó, âm vang oán hờn. "Chúng Tôi Muốn Sống" vẫn là hiện thực, vẫn
tiếp nối nhau tái diễn từ Bắc vào Nam. Hàng triệu "thuyền nhân" Vinh
từ sau tháng tư năm 1975, may mắn thoát khỏi bọn cướp "cạn" cộng phỉ
man rợ, còn phải đối đầu với bọn cướp biển dã man. Không ai có thể
đếm được bao nhiêu triệu "thuyền nhân" Vinh đã đi mà không đến được
bến bờ Tự Do như mong ước!
Tôi nhìn đồng hồ, ngày đã khởi đầu và vụt qua mất sáu giờ. Một ngày
trọng đại khởi đầu cho chuổi ngày định mệnh. Định mệnh của con tàu
3392 này và sinh mạng nó sẽ mang theo. Đến lúc này, lo lắng trách
nhiệm đã lấn át mọi sợ hãi.
Một lần đi, là mãi mãi thương đau!
Đã biết rằng, ra đi là chấp nhận cái chết, thuyền nhân của chiếc
3392 chỉ còn con đường duy nhất: phải vượt thoát !
Nén hương kính dâng lên anh linh của đồng
bào đã tử nạn trên đường tìm Tự Do, cùng tưởng nhớ Ba, Mẹ, anh Hai,
em Sáu của nhà tôi.
Viết cho ngày giỗ cuối năm Mậu Tý.
CSVSQ Bùi Đức Tính - 323
Một Đời Bất Khuất
4 ngôi
mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
4 ngôi
mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi dòng về “Cỏ Thu
Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi
anh Trìu mến
Thiên bi hùng
ca QLVNCH
Để nhớ lại
những ngày Mùa Hè Bão Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 -
LĐ81 BCD
Trận đánh
cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù
cộng sản...
Sông Mao, phi vụ
ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của
tôi...
Khóc một dòng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng
hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện tình của một
Phi Công
Hai vì sao lạc
Tôi thương nhớ vợ
tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Hồi
tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Chinh nhân và
người tình
Tôi vào học viện
Cảnh Sát Quốc Gia
Dọc đường gió bụi
Cảm nghĩ của
một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái Bình Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính
VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Ðội
Thiên Nga
Viết về ngày QL
19/6/2011
Người không nhận
tội
Chào cô ... em gái
Biệt Cách Dù
Chuyện tình
chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan
tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ
hỏa lực 6 Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi
toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Người không nhận
tội
Tháng 4 xót xa
Tìm
lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi
hờn di tản
Charlie, ngọn
đồi quyết tử
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Gãy súng
Chuyện người
Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Của Chính Mình
Đại Bàng Gảy Cánh
Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy còn
đâu?
Vinh danh
Tướng Đỗ Cao Trí
Trung
Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết
tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi
mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân
trường
Anh trai Biên
Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt
Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời
lính...
Câu
chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Dòng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những
mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua những tình khúc bất tử
của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người
Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi -
Chúng con vẫn còn đây
Khi người
ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hãy thắp cho anh một ngọn
đèn
Chiếc áo phong sương tình
anh nặng
Người lính VNCH
trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ
trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những giòng
sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư tình của
người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong
đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Tình Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh
"homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nhìn được
xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn
nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận
Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư tình
May mà có em
Thằng bé đánh giày
người Nghĩa Lộ
May mà có em đời còn dễ
thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba dòng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy
Trần Văn Quí
Những xác chết trên mãnh đất
chữ "S"
Thân phận người
lính gãy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia
Trung ...
Những mảnh đời dang dở
- phần 2,
phần 3,
phần 4,
phần 5,
phần 6,
phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng
không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời
chinh chiến
Vược ngục
Chuyện tình khoai lang
Tâm tình
người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực
19-6-73
Vinh danh người lính
VNCH
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm
thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh
phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
Tình... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ tình
Mùa Thu qua thi ca
Phụ nữ Việt Nam qua
Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng
nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi dòng sông
Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi
dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi tìm tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những
giao thoại văn chương
Xin hãy giúp tôi
Con còn nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ tình
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương
Đường đi không đến
Xương trắng
Trường Sơn
Về lại cố hương
Tự do ơi, tự do!
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số
phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà nòi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô
chở mùa xuân
Em đi để lại con
đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù
Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con
đường không lối thoát
Những
bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái tình
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ còn một ngày
để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng
Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một mình
Hãy bế em ra khỏi cuộc
đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan
Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh
Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Hòa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc tình
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nhìn những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Vì hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Nghìn trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời còn vui vì có
chút tòm tem
Đôi mắt Phượng
Ngưòi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
Tình già
Buổi chiều ở Thị
trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân tình
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông
bạn già năm xưa -
English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài vòng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
Tình người
Hồi ký của một người Hà
Nội
Tình nghĩa, nghĩa tình
Đôi đũa
Giòng đời... và hồi âm
giòng đời...
Không cho phép mình
quên
Thảm sát trên đảo
Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không
đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
Tình ngây dại
Để nhớ để quên