Trại Gia Binh

Đây là dòng hồi tưởng lại thời quá khứ êm đẹp và hạnh phúc của gia đình tôi.  Nén nhang của Má và của các con, các cháu gởi đến cho Chồng, cho Ba và cho Ông của chúng tôi. Và cho tất cả những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Kim Diệu

1960, Ba tôi cưới Má tôi đó là một đám cưới của lính vì đàng trai là bạn bè của Ba tôi trong đơn vị Quân Vận thuộc tiểu khu Khánh Hòa. Ông đơn vị trưởng là người đại diện đàng trai vì ông bà Nội của tôi ở tới Cần Thơ không ra được. Má tôi từ giả mái trường trung học bán công Lê Quý Đôn mà hiệu trưởng lúc bấy giờ là ông Cung Giũ Nguyên để lấy chồng. Ba tôi sau khi ra trường bộ binh Thủ Đức đi ra tới Nha trang làm việc và ở trọ nhà ngoài phố xéo nhà của ông Ngoại tôi, Ba tôi chơi cờ tướng rất giỏi nên chiều chiều sau giờ làm việc là hay qua chơi cờ với ông Ngoại tôi và gặp Má tôi, một thời gian sau hai người nên duyên phận.

Và tôi đã được chào đời tại Nha Trang là miền quê hương cát trắng, có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa đó là lời ca trong bài “ Nha Trang “ của nhạc sĩ Minh Kỳ người đã bị chết khi không biết tại sao mình phải chết khi đi tù cải tạo sau 1975. Và mãi đến mấy chục năm sau tôi mới về lại Nha Trang nhưng Nha Trang hôm nay không còn đẹp như ngày xưa nữa . Má tôi nói Hòn Chồng bây giờ không còn cảnh thơ mộng, êm ả như ngày nào vật đổi sao dời, cảnh cũ người xưa đâu?

Mấy năm sau đó Ba tôi đổi nhiệm sở đơn vị mới là Sư Đoàn 9 Bộ Binh được thành lập tại Qui Nhơn Nơi đây hai em trai kế tôi ra đời, đơn vị chưa có trại gia binh nên gia đình tôi ở ngoài phố.

Một thời gian sau Ba tôi là người lính lại theo sư đoàn về miền Nam : Sa Đéc trước . Sau đó Má cùng ba chị em tôi và cô giúp việc từ Qui Nhơn rời xa gia đình của Ngoại đi theo Ba , lúc đó chị em tôi còn nhỏ ơi là nhỏ. Nhờ một người bạn lính của Ba đưa ra xe lửa để vô Sài Gòn ( Má đã quên tên Bác ấy rồi chỉ còn nhớ nhà Bác ấy ở đường Tăng Bạt Hổ thôi. Chúng con xin cảm ơn Bác).

Vô tới Sài Gòn có địa chỉ của một người bạn lính của Ba tôi mà Bác gái làm việc tại bệnh viện Grall, chúng tôi ở tại nhà của hai Bác. Sáng hôm sau, Bác trai đưa chúng tôi ra xe đò về Sa Đéc ( Má lại quên tên Bác ấy và chúng con xin cảm ơn hai Bác ). Từ nhỏ đến lớn Má tôi sống ở miền Trung chưa hề biết Sa Đéc là ở đâu, vậy mà hôm nay phải cùng với ba con nhỏ và cô giúp việc về Sa Đéc mà lúc ấy em tôi mới có mấy tháng tuổi thôi.

Về tới Sa Đéc, Ba tôi đón chúng tôi rồi đưa về nhà ở trong một dãy nhà gia binh của quân đội, nhìn lại những tấm hình chụp đã mấy chục năm qua là dãy nhà có ba cái: nhà của gia đình tôi, và nhà của một gia đình mà Má tôi quên mất tên, và cuối là nhà của bác Chà lúc ấy Bác vẫn còn độc thân. Lúc này Ba tôi đã có nuôi một con chó berger. Sa Đéc là quê nội của Ba tôi.

Chúng tôi hay về Cần Thơ còn được gọi là Tây Đô ( kinh đô của miền Tây ) để thăm ông bà Nội. Đi ngang qua Vĩnh Long có ngôi trường Tống Phước Hiệp sau 1975 theo số phận cũng bị đổi tên một cách phi lý. Nhà ông bà Nội ở đường Phan Thanh Giản trong một con hẻm. Trên con đường này có ngôi trường rất nổi tiếng là trường trung học Phan Thanh Giản nơi Ba tôi đã học trước khi lính, sau 1975 đã bị đổi tên một cách tức tưởi và vô lý quá đi thôi. Chính tại ngôi trường này đã đào tạo những người người con ưu tú khi ra trường đã góp phần chung tay tạo dựng đất nước miền Nam thân yêu trong đó tôi biết được có cả ông viện trưởng viện Đại Học Cần Thơ : Nguyễn Duy Xuân đã chết oan nghiệt trong trại tù cải tạo ở miền Bắc xa xôi. Và cả hai bác sui với Má tôi cũng học từ ngôi trường này, rồi đi học trường bộ binh Thủ Đức, và mấy chục năm sau đều phải cùng nhau vào tù cải tạo sau 1975. Tôi còn những tấm hình chụp bến Ninh Kiều đẹp lắm không như bây giờ xô bồ dơ bẩn . Ở Sa Đéc người em trai thứ năm của tôi ra đời.

Chúng con xin cảm ơn tất cả các Bác, các Chú, bạn của Ba con trong quân ngũ đã giúp đỡ gia đình con. Thời gian trôi qua, Má con dù không còn nhớ tên, nhưng những tấm lòng đó không bao giờ chúng con quên. Và cuối cùng chúng con không bao giờ quên hình bóng Ba, người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Dong ruỗi đời lính Ba tôi lại ra miền Trung, đơn vị của Ba tôi thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh, nhưng Tiểu Đoàn thì đóng tại Phú Tài, lúc này tôi mới học lớp một khoảng 6,7 tuổi gia đình tôi ở trong đơn vị có một dãy nhà cho lính ở, tôi còn nhớ cứ vào buổi ăn cơm là chúng tôi xuống nhà bếp của trại để ăn cơm cháy, các chú lính mà thấy tụi tôi là các chú lấy cho liền, cơm cháy dòn rụm và ngon được nấu trong những cái chảo to ơi là to và cơm cháy thì ngon ơi là ngon, vậy là chị em tôi cứ ăn cơm cháy của nhà bếp nên no không ăn cơm nhà, Ba tôi biết được la cho và nói rằng là mỗi lần xuống nhà bếp là làm phiền các chú lính nấu ăn.

Những ngày chủ nhật không đi học, chúng tôi đi chơi quanh trong doanh trại, tôi thấy trong trại có trồng cây dương, cây trứng cá, nhánh cây trứng cá rộng lắm, làm mát con đường, và trái trứng cá thì chúng tôi ăn. Chúng tôi gồm mấy bạn con của các Bác, các Chú ở cùng dãy nhà trong trại lính đi chơi vui ơi là vui, và tới ngày Giáng Sinh chúng tôi cùng nhau được Ba Má chở đi lãnh quà của cho tất cả con em của lính trong đơn vị tiểu đoàn và tới lễ Phật Đản là có xe hoa diễu hành ngoài phố đẹp lắm.

Chúng tôi đi tắm biển ở bãi biển Qui Nhơn, đi coi phim rạp hát ở thành phố Qui Nhơn, sau này rạp hát bị việt cộng phá hoại chết biết bao người trong rạp hát đó là tội ác vô cùng man rợ. Đi từ Phú Tài vô Qui Nhơn tôi nhớ là cũng xa lắm, con đường quốc lộ rất đẹp hai bên là ruộng lúa xanh rì đúng là phong cảnh thanh bình nếu đừng có chiến tranh do việt cộng gây nên. Chúng tôi đi chơi tu viện Nguyên Thiều ngôi chùa đẹp và lớn lắm và đi lăng vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Nơi đây đã xuất hiện một vị anh hùng < Mãnh sư Nguyễn Mạnh Tường > với những người lính VNCH oai hùng trong những trận đánh không bao giờ quên trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa. Mà tôi biết được khi đọc trên internet.

Và cuối cùng cuộc đời quân ngũ của Ba tôi là trở về lại miền Nam : Ba Xuyên ( Sóc Trăng ) tôi nhớ lúc đó tôi học trường Nữ tỉnh lỵ lớp 5. Khi ở miền Trung mới vô giọng nói của tôi làm các bạn chung lớp nghe cũng khó khăn lắm , và cô giáo dạy lớp tôi rất dễ thương . Đầu tiên gia đình tôi ở trại gia binh Nguyễn Duy Hòa vui thật là vui, ở trên con đường này có chùa Mã Tộc còn gọi là chùa Dơi. Trại này đông lắm gia đình của quân nhân trong Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận, mỗi buổi chiều đi học về bọn con nít tụi tôi là ra sân chơi đùa với nhau. Lúc đó tôi còn nhớ có xe bồn chở nước để sử dụng trong các gia đình lúc đó gia đình nào cũng có nhiều thùng phi để đựng nước.Ở đây người em trai út của tôi ra đời tại bệnh viện quân y Trương Bá Hân.

Và trong một lần đi thăm Má tôi khi chưa được xuất viện, chị em tôi đã chạy đến nhà Vĩnh Biệt của bệnh viện, thì thấy xác quân nhân và thân nhân đều bị chết cháy do bị bọn việt cộng tấn công vô đồn, đó là cảnh tượng đau lòng chị em tôi đứng đó khóc theo những người bà con đến nhận xác mãi đến bây giờ tôi vẫn không quên.

Sau khi sanh người em út, gia đình tôi chuyển đến trại gia binh Cao Thắng đối diện với trại lính nơi Ba tôi làm việc, chúng tôi thường băng ngang qua con đường chính đi Mỹ Xuyên để đi vô trại chơi, đi quanh trại dưới những tàng cây trứng cá, bẻ trái trứng cá ăn. Rồi đi bộ đến chùa Mã Tộc chơi còn gọi là chùa Dơi vì dơi mỗi ngày về đây ngủ sau khi đi tìm thức ăn, chúng đậu trên những cành cây trở ngược đầu xuống đất. Nhưng bây giờ mấy chục năm về lại chốn cũ thì ôi thôi chẳng thấy dơi nữa vì dơi vô quán nhậu hết rồi .Thầy trù trì nói dơi bị săn bắt dữ lắm nên bây giờ chùa phải giăng lưới để không bắt được dơi nữa. Thấy tội nghiệp cho mấy con dơi quá, đã vô sống trong chùa mà cũng không được yên thân nữa.

Rồi thời gian trôi qua, tôi và hai em trai kế học trường trung học công lập Hoàng Diệu

Ngôi trường đã không bị đổi tên đến hôm nay. Ngay trước trại gia binh có một trường tiểu học dành cho con em của lính và mỗi buổi tối bắt đầu từ 5 h 30 đến tối là chị em tôi cùng với các bạn học võ thái cực đạo tại đây rất vui, có một hôm thầy dạy võ kêu hai chị em tôi lên đấu chung trong lúc đấu với nhau tôi bị em trai đá cho một cái ngay bụng luôn không đỡ được đau quá ngồi xuống khóc ngon lành luôn Trong trại của Ba tôi có có đoàn hướng đạo quân đội chị em chúng tôi đều tham gia, gồm các anh chị, bạn bè cùng tuổi và nhỏ tuổi, nghĩa là đủ mọi lứa tuổi, mà chú Trung là một người lính đã phụ trách.

Mỗi sáng chủ nhật chúng tôi họp mặt tại quảng trường kế dinh ông tỉnh trưởng, tôi vẫn còn nhớ tên anh chị và bạn bè một ít thôi là: Hải Châu, Huyền Châu, Bình là 3 chị em con bác đại tá Điều, Tâm thì nhà anh ở gần trường Hoàng Diệu và anh cũng là một võ sinh giỏi giang của võ đường nơi chúng tôi học võ. Bây giờ thì tôi không biết tin tức gì của các anh chị ấy cả, buồn quá khi nhớ lại thời quá khứ. Chúng tôi thường đi cắm trại với nhau vui lắm, có lần cắm trại, đốt lửa trại, tôi vẫn còn nhớ một ít thôi bài hát như:

< Màn đêm buông rơi theo ánh lửa dần tàn
Tình anh em ta theo ánh lửa tràn lan
Tim ta đây còn khắc ghi bao nhiêu mối tình mặn nồng >

< Nào về đây ta họp mặt cùng nhau
Cuộc đời vui thú có lúc này thảnh thơi
Anh với em ta cùng sống vui trọn ngày
Rồi mai này chúng ta lại gặp nhau >

< Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng


Đó là bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang .

Còn nhớ tại sân vận động Ba Xuyên cắm trại rồi văn nghệ có mặt ông tỉnh trưởng Ba Xuyên, sau buổi văn nghệ có một màn đi vòng tròn sân mà người dẫn đầu đoàn người đi đó là ông tỉnh trưởng, mọi người tay nắm tay để sau lưng rồi cùng nhau hát bài mà tôi chỉ còn nhớ một ít thôi < Đi, đi khắp nơi mà không tốn tiền > . Đó là một trong những kỹ niệm mà tôi vẫn còn nhớ đến.

Trại gia binh Cao Thắng mà gia đình tôi ở hình chữ U, chúng tôi ở dãy giữa nhìn ra đối diện với trại lính. Dãy nhà gồm có gia đình chú Sanh, gia đình chú Vị, gia đình chú Tuấn và tôi vẫn nhớ chú Báu lúc đó chú chưa có gia đình thì phải. Hai dãy còn lại thì quên nhiều chỉ nhớ gia đình bác Trí mà bác gái đi dạy học. Mỗi nhà đều có hầm sâu ở dưới giường, chúng tôi chạy xuống hầm khi nghe pháo kích lúc đó Ba tôi đã chạy vô trại cùng với các người lính khác rồi, nghe tiếng đề pa rồi một tiếng ầm là chúng tôi khóc thét lên, Má tôi vừa lo cho Ba tôi vừa dổ dành chị em tôi và trước đó tôi còn nghe tiếng kẻng báo động xuống hầm nữa.

Rồi cuộc sống tiếp tục trôi qua, đến gần cuối năm 1974, Ba tôi phát bệnh điều trị tại quân y viện Trương Bá Hân một thời gian rồi chuyển lên tổng y viện Cộng Hòa, khi Ba tôi được chuyển đi bằng trực thăng, có nói với chú thượng sĩ Hòa ( thường vụ đại đội ) :

- là tôi đi chữa bệnh, chú ở nhà buổi sáng lo cho anh em lính ăn sáng , đại đội có nấu xôi cho các chú lính ăn sáng.

Rồi Ba tôi mất ở quân y viện. Tôi vẫn còn nhớ các chú lính khóc nhiều lắm cho Ba tôi, ai cũng đều thương nhớ Ba tôi dù Ba tôi tính nóng nhưng rất thẳng, và thương lính, Ba tôi có la rầy các chú lính nhưng không bao giờ ghi vào quân bạ . Ba tôi thường nói chuyện với các bác bạn của Ba tôi nếu mình ghi vào như vậy khi người chỉ huy mới đến họ sẽ nhìn vô quân bạ của người lính đó thì sẽ không tốt cho người lính đó.

Và có một chuyện về Ba tôi, em trai tôi hôm đó bị bệnh nghỉ ở nhà, nhưng lại chạy qua đơn vị chơi, khi băng ngang qua đường thì bị một chú lính đụng té xuống đường tại vì chú ấy cũng chạy nhanh, các chú lính trong trại chạy ra, chú lính đó biết lỗi và nói với Ba tôi là nghe tin em trai chú đã bị tử trận nên chú mới chạy nhanh về nhà cho gia đình hay, Ba tôi còn chia buồn và nói chú ấy cứ đi đi và Ba tôi liền chở em tôi vô quân y viện Trương Bá Hân. Đi từ buổi sáng mà mãi tận đến trưa Ba tôi mới về, ở nhà Má tôi lo lắng tính đi vô bệnh viện thì thấy Ba tôi bộ đồ lính trên người dính đầy máu còn em trai tôi thì chỉ trầy trụa chích thuốc thôi Má tôi hết hồn thì mới biết là khi xe chạy đến bệnh viện thì có chiếc trực thăng chở người lính bị thương, và bị chết về thì Ba tôi thấy vậy chạy lại tiếp với mọi người đưa vào cấp cứu nên mới về trễ . Tôi tự thấy mình có được bản tính này là từ Ba tôi, sau 1975 những lúc lễ lạt có chào cờ thì nhất định là tôi không hát và tôi cũng không nhìn lên lá cờ đó bởi chính nó, chính chế độ này đã làm cho gia đình tôi tan nát, tương lai là ngõ cụt.

Thôi bây giờ hãy trở lại chuyện quá khứ nhé. Tôi và các chú lính đi đón Ba tôi về bằng xe quân đội. Và đám tang của Ba tôi có phủ lá cờ Tổ Quốc, có bảo quốc huân chương, có hai chú sĩ quan đứng gác trước quan tài sau đó đưa về Cần Thơ chôn một chổ với ông Nội tôi, xe tang có chạy ngang qua nhà nơi Ba tôi đã sanh ra và lớn lên, nơi đây các người bạn của Ba tôi đã đợi sẵn để đưa tiễn lần cuối cùng ra nghĩa trang. Thân xác của Ba tôi đã vùi sâu vào lòng đất. Ôi đau đớn biết mấy cảnh sanh ly tử biệt va sau đó gia đình tôi dọn về nhà của ông bà Nội tại Cần Thơ cho đến ngày mất miền Nam 30 – 04 – 1975.

Và rồi đời lính của Ba tôi, gia đình tôi, trại gia binh và những tháng ngày êm ấm, tuổi học trò dễ thương đã lùi vào dĩ vãng xa xưa, nhưng mãi mãi không bao giờ phai lạt trong mỗi con nguời chị em chúng tôi.

Kim Diệu
 


VĂN CHƯƠNG

Người lính VNCH

Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Khối diễn hành
Bãi tập
Lễ mãn khóa


Đó đây trên quê hương
Here and There In The Homeland
Người còn nhớ hay người đã quên
Những ngày tù chung với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nhìn Của Người Ngoại Quốc

Đêm liêu trai
BÌNH-TUY, những ngày cuối cùng...
Tình Anh Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và hòa bình
Tây Ninh, chút còn lại trong lòng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc sống quả phụ
Thượng Tọa Thích Quang Long
4 ngôi mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi dòng về “Cỏ Thu Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi anh Trìu mến
Thiên bi hùng ca QLVNCH
Để nhớ lại những ngày Mùa Hè Bão Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 - LĐ81 BCD
Trận đánh cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù cộng sản...
Sông Mao, phi vụ ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của tôi...
Khóc một dòng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện tình của một Phi Công
Hai vì sao lạc
Tôi thương nhớ vợ tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Hồi tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Chinh nhân và người tình
Tôi vào học viện Cảnh Sát Quốc Gia
Dọc đường gió bụi
Cảm nghĩ của một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái Bình Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Ðội Thiên Nga
Viết về ngày QL 19/6/2011
Người không nhận tội  
Chào cô ... em gái Biệt Cách Dù
Chuyện tình chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ hỏa lực 6  Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Người không nhận tội
Tháng 4 xót xa
Tìm lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi hờn di tản
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Gãy súng
Chuyện người Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Của Chính Mình
Đại Bàng Gảy Cánh Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính Địa Phương Quân
Quốc lộ 20 - hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy còn đâu?
Vinh danh Tướng Đỗ Cao Trí
Trung Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân trường
Anh trai Biên Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời lính...
Câu chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Dòng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua những tình khúc bất tử của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi - Chúng con vẫn còn đây
Khi người ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hãy thắp cho anh một ngọn đèn
Chiếc áo phong sương tình anh nặng
Người lính VNCH trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những giòng sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư tình của người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Tình Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh "homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nhìn được xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư tình
May mà có em
Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ
May mà có em đời còn dễ thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba dòng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Những xác chết trên mãnh đất chữ "S"
Thân phận người lính gãy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia Trung ...
Những mảnh đời dang dở - phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, phần 6, phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời chinh chiến
Vược ngục
Chuyện tình khoai lang
Tâm tình người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực 19-6-73
Vinh danh người lính VNCH

Linh tinh

Bà xã đai-ét
Chuyện kể: Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi tìm Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất tình
Dấu "Hỏi Ngã" trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi Tây
Ý yêu đương
Đêm qua sân trước nở cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
Tình... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ tình
Mùa Thu qua thi ca  
Phụ nữ Việt Nam qua Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi dòng sông Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi tìm tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những giao thoại văn chương
Xin hãy giúp tôi
Con còn nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ tình
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương  
Đường đi không đến
Xương trắng Trường Sơn
Về lại cố hương
Tự do ơi, tự do!
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà nòi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô chở mùa xuân
Em đi để lại con đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con đường không lối thoát
Những bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái tình
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ còn một ngày để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một mình
Hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Hòa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc tình
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nhìn những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Vì hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Nghìn trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời còn vui vì có chút tòm tem
Đôi mắt Phượng
Ngưòi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
Tình già
Buổi chiều ở Thị trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân tình
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông bạn già năm xưa - English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài vòng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
Tình người
Hồi ký của một người Hà Nội
Tình nghĩa, nghĩa tình
Đôi đũa
Giòng đời... và hồi âm giòng đời...
Không cho phép mình quên
Thảm sát trên đảo Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
Tình ngây dại
Để nhớ để quên