Màu tím trong thơ

Thông thường mỗi màu có một vài ư nghĩa của nó, về một vài phương diện nào đó. Màu tím là mầu buồn, ấy là nói theo cách thông thường, nhưng chỉ riêng ở xứ ta, người ta phân biệt màu tím ở hai nơi: Chốn vương triều và nơi dân dă.

Trong triều phục của các vua chúa Âu tây, thường có màu tím. Nhưng ở Trung Hoa và nước ta, ngày xưa, màu của vua là mầu vàng. Áo vua màu vàng nên gọi là hoàng bào, có khi vẽ rồng nên gọi là long bào. Theo quan niệm xưa, màu vàng thuộc vua, hoàng gia. Tuy nhiên, có cái lạ, tại sao nơi vua ở th́ gọi là “Tử Cấm Thành.”

Huế có 3 ṿng thành: Ṿng ngoài cùng th́ gọi là thành Huế. Phía trong thành Huế th́ gọi là Nội thành hay Thành nội Huế, có 9 cửa. Thành nhỏ phía trong, là chỗ sinh hoạt của hoàng gia, là các điện nơi triều thiết th́ gọi là Đại Nội, có 4 cửa: Cửa chính gọi là Ngọ Môn (ngó ra hướng Nam). đối diện với Ngọ Môn là cửa Ḥa B́nh. Bên phải là cửa Hiển Nhơn, bên trái là cửa Chương Đức. Các cửa nầy khi mở có lính khố vàng (lính của vua) canh gác.

Trong đại nội, c̣n có một thành nhỏ nữa, nơi dành riêng cho vua ở, canh gác rất nghiêm nhặt gọi là “Tử Cấm Thành”.

Tử Cấm Thành có ư nghĩa như thế nào? Chữ tử nầy có hai nghĩa có thể giải thích ở đây: Tử như tử tế là tinh mật, kỹ càng và hai là sắc tím, sắc tía (Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh). Tuy nhiên, có lần tôi hỏi ông chú họ của tôi là người rành chữ Nho, th́ ông giải thích tử có nghĩa là tím, thuộc về nhà vua. Trong quang học, “tia tử ngoại” là tia sáng có mầu tím.

Dù có theo nghĩa Tử Cấm Thành hay không, Huế, nơi vua quan th́ nó rất gần với màu tím. Màu tím đó được gọi là “Tím Huế”, như bài thơ sau đây của Nguyễn Bính:

Màu tím Huế

Thôi thế là em cách biệt rồi!
Đường đi mỗi bước lại xa xôi
Tim tím rừng chiều, tim tím núi
Tim tím chiều hôm, tim tím mai

Ban chiều tim tím nhớ mong nhau
Đêm tối ḱa em tím rất nhiều
Anh cúi xuống hôn màu tím giấy
Thư về em, tím nét thương đau

Mai mốt rồi đây lầm cát bụi
Anh lại đường xa trải kiếp người
Tim tím rừng chiều, tim tím núi
Chiều hôm nhiều tím thế em ơi!

Màu tím ở đây không hẵn là do Nguyễn Bính tưởng tượng ra đâu! Huế nằm bên cạnh dăy Trướng Sơn. Những buổi chiều hè, ngồi bên bờ sông Hương, nh́n mặt trời lặn sau những ngọn núi chập chùng, người ta sẽ thấy mặt trời to, đỏ như một khối lửa trong ḷ thợ rèn, từ từ hạ xuống, chạm vào đỉnh núi rồi tóe ra muôn ngàn tia sáng đỏ rực, tưởng như sự va chạm vào núi làm cho mặt trời vỡ ra. Ánh sáng màu đỏ của mặt trời chiếu vào mây, làm cho mây cũng đỏ rực lên một màu lửa như thế. Thế rồi, màu đỏ mất dần, chuyển sang màu tím nhạt, đậm dần lên cho đến khi mặt trời khuất sau dăy Trường Sơn. Màu đen dâng lên ch́m ngập cả khung cảnh núi rừng thôn xóm phía tây thành Huế.

Có lần tôi nói với học tṛ của tôi rằng không thể có sáng tím mà chỉ có chiều tím. Tại sao? Màu tím là màu pha giữa màu đỏ và màu đen. Màu đỏ là màu của mặt trời. Khi mặt trời sắp lặn th́ mầu đen dâng lên, như Xuân Diệu từng nói vậy: “Chiều lên dần dần, chiều không xuống.” “Chiều lên dần dần” có nghĩa là màu đen lên dần dần. Khi màu đen dâng lên, ḥa với màu đỏ của trời chiều tạo thành màu tím. Buổi sáng, màu đen không lên dần dần mà chỉ có thể mất đi dần dần nên nó không ḥa với màu đỏ để tạo ra mầu tím được. Giải thích như thế, không biết có bị các họa sĩ chê là múa ŕu qua mắt thợ không?

Tuy vậy, cũng có lần Xuân Diệu không nói là “Chiều lên”. Ông nói ngược lại: “Chiều xuống.”

Chiều ơi hăy xuống thăm ta với!

Thiên hạ ĺa xa đời trống không!”

Chiều xuống là cách nói thông thường của mọi người.
Trong bài thơ trên, Nguyễn Bính nh́n màu tím qua cảnh thực: Rừng, núi, chiều hôm, sớm mai đều tím. Tím không đậm mà “tim tím”, có nghĩa là hơi tím. Núi, chiều và cả giấy hơi tím một chút. Và tím cũng là nỗi nhớ, nỗi thương đau nên nó từ hơi tím chuyển qua tím hẵn, tím đậm hay c̣n gọi là tím than.

Trong một bài thơ khác, Nguyễn Bính chỉ vẽ ra vài nét về Huế, chỉ vài nét mà ông cũng không thể không nhắc tới màu tím:

Vài Nét Huế

1.
Cầu cong như chiếc lược ngà,
Sông dài, mái tóc cung nga buông hờ.
Đôi bờ, đôi cánh tay vua
Cung nga úp mặt làm thơ thất t́nh.

2.
Ở đây áo tím riêng màu
Bài thơ nón mỏng che đầu mỹ nhân.
Loanh quanh xóm vắng, đường gần
Ấy ai làm dáng phi tần với ai!
Con sông không rộng mà dài
Con đ̣ không chở những người chính chuyên.

3.
Ở đây có nước sông Hương
Có cây núi Ngự, có đường Nam Giao
Bồng bồng sáu nhịp cầu cao
Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh
Thâm u một dăi hoàng thành
Đ́nh suông con én không đành bay đi.

Vài nét ở trong bài thơ trên lại nói nhiều về cung phi, cung Tần và vua. Cầu Trường Tiền cong như cái lược ngà, nằm vắt lên hai bờ sông như hai cánh tay của vua. Điều ấy không quan trọng bằng có một cung nga đang làm “thơ thất t́nh”. Có cung nga đang làm dáng với ai, và hoàng thành thâm u một dăy thành dài.

Bài thơ thất t́nh của cung nga, chính là bài thơ trong “Tần Cung Nữ Oán”:

Cặp mày xanh chiếc lá cũng ghen,

Câu khiển hứng đánh ch́m ḍng nước chảy.

Có một cung phi đời Tần, ngồi bên ḍng suối trong cung điện, nhặt một chiếc lá viết lên đó vài câu thơ cho người t́nh cũ, mong rằng chiếc lá sẽ trôi xa, ra tới ngoài kia, ngoài hoàng thành để mong sao người yêu cũ của cung nga nhận được, biết tới tấm ḷng của nàng không quên người t́nh cũ. Vậy mà chiếc lá ghen với sắc đẹp của nàng, đă không trôi đi mà ch́m xuống đáy nước.

Thử hỏi, trong hoàng thành Huế kia, có bao nhiêu cung phi làm thơ thất t́nh như vậy?

Cái “áo tím riêng mầu” đây là cái áo của cung phi. Và khi xa xôi cách trở như thế, kẻ trong nội (đại nội), kẻ ngoài nội ai c̣n làm dáng với ai nữa?!

Đọc bài thơ nầy, người ta có thể liên tưởng đến bài “Màu Thời Gian” của Đoàn Phú Tứ. Bài thơ tả tâm trạng của một cung nữ, khi sắp ĺa đời, không c̣n muốn gặp vua nữa, không muốn để cho nhà vua thấy dung nhan tàn tạ của ḿnh, để cho nhà vua cứ giữ trong trí nghĩ của ông về một giai nhân sắc nước hương trời như khi mới được tuyển vào cung:

Màu Thời Gian

Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
D́u vương hương ấm thoảng xuân t́nh

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Ngh́n trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm t́nh cũ ĺa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Duyên trăm năm đứt đoạn
T́nh muôn thuở c̣n hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát.

(Đoàn Phú Tứ)


Về h́nh thức, bài thơ nầy không có ǵ lạ như nhiều nhà phê b́nh tán dóc. Những câu thơ dài ngắn không thường, có khi chen vào mấy câu thể ngũ ngôn, thất ngôn, xem lại th́ nó cũng giống như thể thơ cũ, gọi là “Trường đoản cú” (câu dài, ngắn) trong nguyên bản “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn vậy. Ví dụ các câu mở đầu trong “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn viết như sau:

Thiên địa phong trần.

Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề, thùy tạo nhân

Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt
Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Thanh b́́nh tam bách niên thiên hạ
Tùng thử nhung y thuộc vũ thần
Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát
Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt
Cung tiễn hề, tại yêu
Thê noa hề, biệt khuyết
Lạp lạp tinh kỳ xuất tái sầu
Huyên huyên tiểu cổ từ gia oán
Hữu oán hề, phân huề
Hữu sầu hề, khế khoát


……..

Nếu đem thể “truờng đoản cú” nói trên mà so với bài “Màu Thời Gian” của Đoàn Phú Tứ th́ có khác ǵ nhau bao nhiêu. “Màu Thời gian” cũng pha lẫn giữa ngũ ngôn, thất ngôn, thơ mới, v.v…

Tại sao Đoàn Phú Tứ không dùng những thể thơ cũ, như ngũ ngôn, tứ tuyệt, thất ngôn hay thể thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ thường làm…

Có ǵ đâu! Tại v́ ông ta là một nhà viết kịch thơ. Trong kịch thơ, thường các câu nói của nhân vật phải viết bằng thơ. Những lời nói như vậy, không thể cứ phải giữ một thể thơ mà thôi được. Bên Tây phương cũng vậy. Nếu độc giả có đọc những vở kịch của Shakespeare, thiên tài kịch nghệ của Anh, độc giả sẽ thấy trong lời thơ của các nhân vật, cũng viết theo thể đại khái như “trường đoản cú” của ta vậy. Ông Đoàn Phú Tứ quen dùng thể “trường đoản cú” để viết kịch, th́ nay ông dùng nó thể viết bài thơ “Màu Thời Gian” cũng không có ǵ là lạ để tán hươu tán vượn.

Điều rắc rối là bài thơ nầy khó hiểu. Khi th́ ông nói tới hiện tại như “Sớm nay…”, khi th́ ông nói tới quá khứ như: “Ngàn xưa, không lạnh nữa Tần phi” (tức cung phi đời nhà Tần (có thể là Tần Thủy Hoàng, ông có tới ba ngàn cung phi), bên Tầu; khi th́ nói không gian: “Trời mây phảng phất”, khi th́ nói thời gian: “Màu thời gian không xanh.”, khi th́ nói “t́nh duyên trăm năm”, khi th́ nói t́nh duyên ngắn ngủi, tới thề nguyền: “Tóc mây một món chiếc dao vàng.”

Đọc lên th́ thấy hay, mà hiểu cho hết th́ khó hiểu.

Tướng Việt Cộng Nguyễn Sơn là một người rất yêu văn nghệ có nói “không hiểu nổi” nhưng “cứ nhơ nhớ, nó thanh thoát, nó lâng lâng, như khi nh́n áng mây trôi, khi ngắm ḍng nước chảy… nó lung linh như một khúc nhạc thiều…, nó chập chờn như một bóng Liêu Trai!”

Thật ra, bài thơ có nguyên ủy của nó, một động lực kín đáo khiến Đoàn Phú Tứ viết nên bài thơ nầy.

Đoàn Phú Tứ giải bày rằng là có một giai nhân bên Hồ Tây từng học nhạc ở Hà Nội, từng quyến rũ Đoàn Phú Tứ bằng tiếng dương cầm rất hay, nhưng khi ốm nặng, cô gái ấy đă khước từ, dấu mặt, không cho ông vào thăm (như Tần phi “Thà nép mày hoa, thiếp phụ chàng)

Thiên tài của nhà thơ là đem câu chuyện t́nh của người ông yêu ngày nay để ví với câu chuyện một cung Tần như đă nói ở trên. Người cung phi trong câu chuyện và cá tính của người yêu ông có những nét giống nhau, không chịu để người ḿnh yêu thấy cái nhan sắc tàn tạ của ḿnh, muốn để lại trong ḷng người yêu những ấn tượng về vẽ đẹp, về t́nh yêu, về nhớ nhung. Làm sao nó giữ được nguyên vẹn như thuở ban đầu. Trong viễn tượng đó, nhà thơ c̣n bày tỏ được sự kín đáo, e lệ, và dịu dàng của giai nhân, bằng những h́nh ảnh, âm thanh, màu sắc, xưa nay, cũ mới, không gian, thời gian, yêu đương, nhớ nhung và tuyệt vọng trong một t́nh tự đặc biệt, qua những h́nh ảnh của cung nhân đẹp đẽ, trong cái lạnh lẽo của cung pḥng, v.v… với những danh từ xưa nay lẫn lộn.

Ví dụ “phụng quân vương” là tiếng cổ, ngày nay nếu chúng ta có nghe tới th́ cũng chỉ thấy trong những tuồng cổ (hát bội hay cải lương). Bên cạnh đó “thiếp phụ chàng” là những tiếng của thời đại ông. Tản Đà viết: “Vàng bay mấy lá năm hồ hết, Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.” Lại cũng qua đó, ta thấy h́nh ảnh cô Kiều cắt tóc thề bồi cùng Kim Trọng: “Tóc mây một món chiếc dao vàng.”

Một điều khác, rất đặc sắc và mới lạ của bài thơ của ông là màu sắc. Khi nói tới màu sắc, thường người ta nói tới không gian: Màu trời, màu chiều, màu núi sông, thành quách. Đoàn Phú Tứ có cái nh́n đặc biệt: Ông thấy màu sắc trong thời gian. Đó là màu tím, màu buồn; mà lại tím ngắt, là tím Huế, tím của thành quách cung đền miếu mạo, cũng có thể là màu của cung A Pḥng nữa chăng, nên nó lại càng buồn hơn.

Đọc bài thơ nầy của ông, người đọc cảm thấy buồn, nhưng cái cảm nhận ấy, không phải ở món tóc cắt thề nguyền, không phải v́ “cung lạnh”, không phải “t́nh trăm năm không vẹn”, mà chính ở màu thời gian buồn bă do ông vẽ ra trước mắt người đọc, trong trí tưởng của người đọc. Màu thời gian đó, cộng hưởng với hương thời gian, hai thứ quyện lẫn vào nhau, đan chéo vào nhau và đem lại cho người đọc một nỗi buồn nhẹ nhàng mà sâu lắng vô cùng.

Trong chiến tranh chống Pháp, phần đông những người theo kháng chiến c̣n ít nhiều bản chất tiểu tư sản, ít người không biết tới bài thơ “Màu Tín Hoa Sim” của Hữu Loan. Mặc dù lúc bấy giờ, chính quyền Việt đă có lệnh cấm và lưu giữ bài thơ nầy, nhưng hầu hết trong ba lô những người nói trên, trong sổ tay họ đều có bài thơ nầy:

Màu tím hoa sim

Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đ́nh
Yêu nàng như t́nh yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đ̣i may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi ḿnh không về
th́ thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc b́nh hoa ngày cưới
thành b́nh hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một ḿnh đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nh́n ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô t́nh hay ác ư với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nh́n áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím t́nh trang lệ rớm
Tím t́nh ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi với vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...


Nội dung bài thơ là một câu chuyện thật, diễn tả tâm trạng một người đi bộ đội. Anh ta và người vợ yêu nhau tha thiết, đám cưới đơn sơ v́ chiến tranh, v́ hoàn cảnh, nhưng rồi họ xa nhau rất sớm. Người chồng lên đường v́ nhiệm vụ, người vợ ở lại quê nhà và mất sớm. Thay v́ người lính “sợ khi ḿnh không về, th́ thương người vợ chờ…” th́ lại “chết người em nhỏ hậu phương.”

Tại sao cô ta ở hậu phương mà chết sớm? Có riêng ǵ một trường hợp người vợ trẻ của Hữu Loan chết đuối mà trong cuộc chiến tàn bạo xảy ra 30 năm trên dăi đất Việt Nam, có biết bao nhiêu nghịch cảnh. Cuộc chiến nầy là cuộc chiến nhân dân, người ở bên nầy hay bên kia, dù hậu phương cũng dễ chết không kém ǵ người ở tiền tuyến: Máy bay oanh tạc, pháo kích bừa băi, bị bắt dân công cực khổ, đói rách bệnh tật, chết chóc, nhất là các dân công chiến trường…

Nội dung bài thơ là một tâm t́nh đau đớn của những người đi trong chiến tranh, sống trong chiến tranh và tồn tại trong chiến tranh. Chính những kẻ sống sót và tồn tại trong chiến tranh, chính là những người mang một tâm trạng đau đớn nhất v́ những mất mát, chia ly, đói khổ và tù đày.

Trước năm 1954, những người ở vùng quốc gia ít ai biết bài thơ nầy. Năm 1957, trên tuần báo Mùa Lúa Mới xuất bản ở Huế, Đỗ Tấn giới thiệu bài thơ nầy với độc giả miền Nam vĩ tuyến 17. Thế rồi qua báo chí, bài thơ được phổ biến ở Sài g̣n, nhiều người thích thú, đọc, in lại, chép lại và trao cho nhau. Dũng Chinh là người đầu tiên phổ nhạc bài thơ nầy, dưới tiêu đề “Những Đồi Hoa Sim” và “Con Nhạn Trắng G̣ Công” đă truyền thụ những cảm xúc về thân phận người Việt Nam trong chiến tranh bằng giọng hát của cô trên khắp miền Nam và ra tới miền Bắc. Vào Nam, không ít cán bô, bộ đội miền Bắc, t́m nghe cho được tiếng hát Phương Dung qua bản “Những Đồi Hoa Sim” của Dũng Chinh.

Dũng Chinh tốt nghiệp khóa 26 (hay 27 Thủ Đức?) và hy sinh ở đồi Peatrice ở Phan Thiết chỉ mấy tháng sau khi tốt nghiệp, khi mới 28 tuổi. J. Leiba có câu thơ “Người đẹp thường hay chết yểu, Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.” Trong trường hợp nầy, thi nhân lại là một nhạc sĩ tài hoa.

(Phạm Duy cũng có phổ nhạc bài thơ nầy, lời ca của ông sát với bài thơ của Hữu Loan hơn, nhưng không được phổ biến bằng bài hát của Dũng Chinh).

Câu chuyện t́nh tuy đơn giản, nhưng lời thơ th́ rất hay, được đánh giá là một trong những bài thơ t́nh hay nhứt thi ca Việt Nam hiện đại.

Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu gia đ́nh người vợ của ông: Thời chinh chiến, cả ba người anh trai đều tham gia bộ đội, trong khi đó, người vợ ông c̣n có những em quá nhỏ (chưa biết nói). Cô cũng vừa mới lớn (tóc nàng xanh xanh, ngắn chưa đầy búi). Đám cưới hai người rất đơn giản: tác giả là người lính Vệ Quốc Đoàn, xa gia đ́nh. Cô gái th́ “không đ̣i may áo cưới” v́ biết gia đ́nh người chồng nghèo. Người chồng cũng chỉ có bộ “đồ quân nhân”, và cũng là người độc đáo: trẻ, đang làm nhiệm vụ của người con trai trong cơn khói lửa và biết làm thơ. Anh ta bê bối hay lười biếng độc đáo đến độ đôi giày đinh không lau sạch, c̣n “bết đất hành quân.”

Một điều đáng buồn hơn: họ không có tuần trăng mật, “cưới xong là đi” ra chiến trường.

Bài thơ nầy có nhiều h́nh ảnh đặc biệt: Màu hoa sim tím buồn bă và cảnh u tối của ngôi mộ trong bóng chiều hôm: “Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối.” Và một h́nh ảnh khác, không những buồn bă mà c̣n là nghèo khổ, nghèo đến độ không mua nỗi một bát nhang, dùng cái b́nh hoa ngày cưới để biểu tượng cho người đă chết, một b́nh hoa có nhiều tàn hương lạnh chung quanh chưa kịp quét: “Chiếc b́nh hoa ngày cưới, thành b́nh hương tàn lạnh vậy quanh”.

Ư tưởng hay và h́nh ảnh đẹp nhất trong bài thơ chính là cảnh “chiều hoang biền biệt!”

“Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt!”

Buổi chiều, người lính đi qua những đồi hoa sim, với một nỗi buồn da diết, hết “thương người vợ chờ” th́ nay lại “tôi về không gặp nàng, má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối”.

Có ai từng đi qua những vùng đồi hoang gần chân núi Trường Sơn ở miền Trung nước Việt mới thấy những ngọn đồi thoai thoải chập chùng, kéo dài đến bất tận. Đi trong cảnh trời chiều lặng lẽ ấy, người ta dễ cảm nhận hết nỗi buồn của nguời xa quê. Đó là những ngọn đồi hoang, với rừng cây hoang, phần nhiều là cây sim dại, cây mua dại. Cây mua và cây sim đều có hoa mầu tím như nhau, khác chỉ là trái mua không ăn được.

Vùng đồi nầy là vùng cây hoang, nên tác giả mới gọi là chiều hoang. Tiếng hoang nầy là danh từ Hán-Việt, có nhiều nghĩa, vừa là cây cối mọc hoang, không ai trồng, không ai chăm sóc, vừa có nghĩa là mênh mông, xa tít mù khơi tới tận chân trời. Cây mọc hoang ở đây là cây sim, đến mùa hoa nở th́ màu tím trùm khắp cả ngọn đồi, từ đồi nầy qua đồi khác. Màu hoa sim lan xa măi, trải dài ra măi, đi biền biệt tới cuối chân trời. V́ vậy, tác giả nhắc đi nhắc lại những mấy lần câu “những đồi hoa sim”:

Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết


Màu tím là mầu buồn, nhưng không hẵn mầu ấy không nhắc người lính nhớ tới một kỷ niệm, một h́nh ảnh.

Những người con gái thường thích mặc áo mầu tím. Mầu tím phản ảnh với nước da trắng làm cho các cô trắng thêm. Hơn thế nữa, nó là mầu của tuổi biết yêu, đă có t́nh yêu, đă có cá tính riêng hay có một kỹ niệm, một tâm sự.

Sài g̣n náo nhiệt, h́nh như mầu tím ch́m đi trong cái náo nhiệt và ồn ào của thủ đô miền Nam, chiếc áo tím ch́m đi trong muôn vàn màu sắc rực rỡ. Huế th́ trái lại. Cùng với hoàng thành âm u, với ḍng sông chảy chầm chậm, ngập ngừng với phố xá không quá đông đúc, chiếc áo tím của các cô gái Huế nổi bật lên, khiến người ta không chú ư không được.

Hoa tím có nhiều loại: Hoa sim, hoa mua, hoa cà, hoa khoai lang, hoa sầu đông. Hoa sim, hoa cà ít có mùi hương; hoa sầu đông hương thơm ngào ngạt…

Người miền quê ưa mặc áo tím hoa cà, đậm hơn một chút người ta chọn mầu hoa sim. Các cô gái Huế, không hiểu có phải chịu ảnh hưởng màu tử cấm thành, mầu hoàng thành mà chọn mầu tím đậm, mầu tím than, Nguyễn Bính gọi là “Tím Huế”.

Trời chiều mầu tím làm cho nhạc sĩ Đan Thọ xúc cảm mà phổ thơ bài Chiều Tím của Đinh Hùng, “Ngàn Thu Áo Tím” của Hoàng Trọng, hoặc câu chuyện một cô gái thích mặc áo tím đi dạo phố mà thành “Ngàn Thu Áo Tím”, của Hoàng Trọng, “Tà Áo Tím” của Hoàng Nguyên hoặc Văn Quang v́ yêu “Chân Trời Tím” nên viết cuốn sách cùng tên.

Đó là “Mầu Kỷ Niệm” của Nguyên Sa được Phạm Đ́nh Chương phổ thành nhạc. Người học tṛ viết thư bằng mực tím, nhưng pha mực cho đậm hơn chút nữa cho “vừa mầu nhớ thương!

Trở lại câu chuyện t́nh của Hữu Loan. Liệu ông ta có chung thủy với người vợ mới qua đời?

Nếu quả thật ông giữ ḷng nguyên vẹn trước sau, th́ tại sao trong cảnh trời mầu tím buồn thảm của một buổi chiều mênh mông, ông ta lại có thể hát một câu ca dao lẵng lơ, nguời ta tưởng như ông đă quên người vợ trẻ quá có rồi:

“Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu,
Áo anh sứt chỉ đă lâu…
Nhờ em tốt bụng em khâu giúp rồi
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đă lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi ṿ
Một con lợn béo lại đèo buồng cau
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm

hoànglonghải


------------ --------- --------- --------- -----

Màu Kỷ Niệm
Nhạc: Phạm Đ́nh Chương
Lời thơ: Nguyên Sa

Nhớ ngày nào tan trường về chung lối
Mắt thuyền sương, nghiêng nón ngất ngây đời
Ḷng trao ḷng cho t́nh vút lên khơi,
Cho ngon màu tŕu mến ướt lên môi
Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.
Sợ thư t́nh không đủ nghĩa yêu đương.
Anh pha mực cho vừa màu luyến thương.
Ngày hành quân, anh đi về cánh rừng thưa,
Thấy sắc hoa tươi nên mơ màu áo năm xưa
Kỷ niệm đâu len lén trở về tâm tư,
Có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ
Hẹn ngày mai khi tan giặc sẽ cùng nhau
Góp hết hoa thơm chung tay xây kết mộng đầu
Trời thần tiên đôi bướm nhịp nhàng lả lơi,
Nương cánh nhau đi xa hơn cả cuộc đời
Ôi màu hoa, màu thương nhớ.

Rồi một ngày kia em khoe áo mới xanh hơn mây trời.
Hai đứa chung vui khi xuân vừa tới thơ ngây cuộc đời.
Tṛ chơi trẻ con em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu.
Chú rể ngân ngơ ra hái hoa cà làm quà cưới cô dâu.

Mười mấy năm qua khi hoa vừa hé
nhụy th́ đời trai vui chinh chiến
Anh xuôi miền xa bao lần đếm bước xuân qua
Anh ơi, kỷ niệm xưa em c̣n giữ măi trong ḷng

Em biết không em, xuân lại trở về,
đường rừng chiều hoang sương xuống.
Thương sao là thương trong màu tím sắc hoa xưa ...
Dĩ văng đâu trôi về nhắc ta ngày xưa.

Ngàn Thu Áo Tím


Nhạc và Lời: Vĩnh Phúc và Hoàng Trọng

Ngày xưa xa xôi, em rất yêu màu tím.
Ngày xưa vô tư, em sống trong tŕu mến.
Chiều xuống, áo tím thường thướt tha,
Bước trên đường gấm hoa, ngắm mây chiều thướt tha.
Từ khi yêu anh, anh bắt xa màu tím.
Sầu thương cho em, mơ ước chưa kịp đến.
Trời đă rét mướt, cùng gió mưa,
Khóc anh chiều tiễn đưa, thế thôi tàn giấc mơ !!!

Điệp khúc :
Anh xa xôi, bóng mưa giăng mờ lối,
Anh xa xôi, áo bay trong chiều rơi,
Anh xa xôi, áo ôm tim lẻ loi,
Tím lên khung trời nhớ nhung đầy vơi.
Mưa rơi rơi, bóng anh như làn khói,
Mưa rơi rơi, bóng anh xa ngàn khơi,
Mưa rơi rơi, có hay chăng ḷng tôi,
Có hay bao giờ bóng người yêu tới !!?

Từ khi xa anh, em vẫn yêu và nhớ,
Mà sao anh đi, đi măi không về nữa ???
Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ,
Ước trong chiều gió mưa, khóc thương h́nh bóng xưa.
Ngàn thu mưa rơi, trên áo em màu tím.
Ngàn thu đau thương, vương áo em màu tím.
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau,
Tháng năm c̣n lướt mau, biết bao giờ thấy nhau ?
Tháng năm c̣n lướt mau, biết bao giờ thấy nhau ?

Chiều Tím

Sáng tác: Đan Thọ, Đinh Hùng
Lời: Đinh Hùng
Nhạc: Đan Thọ

Chiều tím chiều nhớ thương ai, người em tóc dài
Sầu trên phím đàn, t́nh vương không gian
Mây bay quan san, có hay?

Đàn nhớ từng cánh hoa bay, vầng trăng viễn hoài
Màu xanh ước thề, ḍng sông trôi đi
Lúc chia tay c̣n nhớ chăng?

Ai nhớ ... mắt xanh năm nào
Chiều thu soi bóng, nắng chưa phai màu
Kề hai mái đầu nh́n mây tím... nhớ nhau...

Chiều tím chiều nhớ thương ai, c̣n thương nhớ hoài
Đàn ơi nhắn dùm người đi phương nao
Nếp chinh bào biếc ánh sao...

Từ đấy đàn nhớ thanh âm chùng dây vỹ cầm
Người xa vắng rồi chiều sang em ơi!
Thương ai hoa rơi lá rơi...

Người ấy ḷng hướng trăng sao, hồn say chiến bào
T́m trong tiếng đàn... mùi hương chưa phai
Ư giao ḥa người nhớ chăng?

Mây gió... bốn phương giăng hàng
Mùa thu thêu áo nét hoa mơ màng
Và em với chàng kề vai áo... vấn vương

Chiều hỡi! Đàn nhớ mong nhau, t́nh thương bắc cầu
Người đi hướng nào? T́m trong chiêm bao
Tóc bay dài, gió viễn khơi

 


VĂN CHƯƠNG

Người lính VNCH

Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những gịng sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư t́nh của người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
T́nh Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh "homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nh́n được xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư t́nh
May mà có em
Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ
May mà có em đời c̣n dễ thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba ḍng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Những xác chết trên mănh đất chữ "S"
Thân phận người lính găy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia Trung ...
Những mảnh đời dang dở - phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, phần 6, phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời chinh chiến
Vược ngục
Chuyện t́nh khoai lang
Tâm t́nh người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực 19-6-73
Vinh danh người lính VNCH

Linh tinh

Tiếng chuông ái t́nh
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ c̣n một ngày để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một ḿnh
Hăy bế em ra khỏi cuộc đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Ḥa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc t́nh
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nh́n những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
V́ hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Ngh́n trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời c̣n vui v́ có chút ṭm tem
Đôi mắt Phượng
Ngựi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
T́nh già
Buổi chiều ở Thị trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân t́nh
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông bạn già năm xưa - English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài ṿng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
T́nh người
Hồi kư của một người Hà Nội
T́nh nghĩa, nghĩa t́nh
Đôi đũa
Gịng đời... và hồi âm gịng đời...
Không cho phép ḿnh quên
Thảm sát trên đảo Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
T́nh ngây dại
Để nhớ để quên