Nguyễn Khánh Vũ
Tác giả tự giới thiệu: Tôi tên Nguyễn Khánh
Vũ, kỹ sư điện toán cho một công ty bên Arizona. Đã tham gia với bài
"Nước Mỹ và tôi" vào năm đầu tiên, và mới nhất là các bài "Không Cho
Phép Mình Quên"; "Homeless tại Mỹ." "Lễ Tạ Ơn 2008". Sau đây là bài
viết mới nhất.
Quê hương là một nơi mà cho dù bao năm xa cách, cho dù bao nhiêu bận
rộn trong cuộc sống thường nhật cũng khó làm cho người ta quên.
Hôm qua gia đình tôi vừa nhận được một số hình ảnh từ Mỹ Tho, Việt
Nam gửi sang. Số là bà chị, con dì tôi, vừa lập gia đình. Chú rể là
một Việt kiều về từ Canada. Hai người quen nhau qua sự giới thiệu
của một người bạn của dì tôi.
Mỹ Tho, vẫn như ngày tôi ra đi, không một chút thay đổi. Thời gian
dường như ngưng đọng lại ở các làng quê Việt Nam nói chung và tại Mỹ
Tho, quê tôi, nói riêng. Sinh hoạt tại các làng quê vẫn như những
thế kỷ trước. Người dân hầu như không biết gì đến tiến bộ khoa học
của thế giới bên ngoài. Vẫn cảnh con trâu đi trước, cái cày theo
sau.
Vẫn những người nông dân chân lấm, tay bùn. Những người cầm quyền
tại Việt Nam hiện nay cứ vỗ ngực khoe khoang, nước Việt sẽ vượt
Thailand lên hàng đầu các nước xuất khẩu gạo trên thế giới, nhưng
thử hỏi đời sống người nông dân có gì thay đổi sau hơn mấy chục năm
dưới cái chế độ gọi là vì dân của họ, và sau những vụ mùa vất vả
người nông dân còn lại được gì?
Ống kính của người thợ quay phim không biết vô tình hay hữu ý đã
ngừng khá lâu khi quay lướt qua phần mộ của gia tộc. Ngoại tôi nằm ở
đây đây. Mới đó mà Ngoại đã mất hơn hai năm. Tôi luôn nhớ những lần
Tết đến, mấy chị em tôi quây quần lại và chúc Tết Ngoại qua điện
thoại. Lần nào tôi cũng chúc "Chúc Ngoại khoẻ mạnh, sống lâu trăm
tuổi để tụi con còn về thăm Ngoại nha Ngoại". Ngoại cười hiền hậu "Ừ
Ngoại ráng sống 100 tuổi. Mà năm nay tụi con có về thăm Ngoại hôn?".
Thế là tôi im lặng, ngập ngừng. "Ngoại nói vậy thôi, ở bển tụi con
ráng mần ăn, khi nào rảnh rỗi thì về thăm Ngoại".
Ngoại tôi lưng còng lắm. Mỗi lần về Mỹ Tho thăm Ngoại, tôi lại thấy
Ngoại còng hơn. Con cháu về thăm, Ngoại mừng và khỏe ra trông thấy.
Ngoại lúi húi giựt mấy trái dừa tươi về bổ ra cho chúng tôi uống.
"Tụi con uống đi, đi xe đò xa xôi về thăm Ngoại", Ngoại cứ lăng xăng
đi tới đi lui nhắc nhở.
Nhớ hồi Ba tôi còn ở trong tù cộng sản, năm nào ba tháng hè Má tôi
đều đưa mấy chị em về gửi dưới Ngoại. Ngày ngày Ngoại đi kéo tàu dừa
rớt trong vườn, nuôi vài con heo, con gà, chắt chiu từng đồng lo cho
con cháu và phụ đỡ Má tôi nuôi Ba tôi trong tù. Ngày nào cũng vậy,
trước khi rời nhà đi thăm vườn, Ngoại cũng đều căn dặn mấy chị em
tôi ở nhà chơi, đừng theo tụi con nít trong xóm đi la cà. Vậy mà
bóng Ngoại vừa khuất khỏi hàng dừa ngoài ngõ là tôi với nhỏ em đã
phóng biến đi mất. Có lần Ngoại bắt gặp tôi cùng lũ trẻ trong xóm đi
tắm sông. Ngoại bắt về, nằm xuống phản, rồi Ngoại quất cho 3 roi đau
quắn đít. Đánh xong, Ngoại quăng cây roi, rồi ngồi bệt xuống bệ cửa,
mắt nhìn xa xăm. Ngoại nói run run như khóc "Cha Má bây gửi bây cho
Ngoại. Cha bây người ta bắt đi không biết chừng nào về. Còn Má bây
bận làm ăn trên Sàigòn. Bây cứ cãi lời Ngoại đi tắm sông. Lỡ Hà Bá
nó bắt bây, chừng Cha bây về, Ngoại ăn nói làm sao với Cha bây?".
Rồi Ngoại xuýt xoa khi xức dầu cù là cho tôi "Ngoại đánh bây đau,
bây có giận Ngoại không?". Tôi hồi đó không được như cái thầy gì đó
trong truyện Tàu, thấy Mẹ đánh không đau thì thương Mẹ hơn vì biết
Mẹ đã già yếu. Tôi giận Ngoại vì Ngoại đã quất tôi tới 3 roi thay vì
chỉ 1. Thấy tôi im lặng không trả lời, Ngoại lại nói "Thôi đi thay
đồ đi, rồi Ngoại nấu cơm cho ăn. Mai Ngoại rảnh Ngoại nấu chè cho
bây ăn".
Ngoại tôi là bà tiên nhân từ trong truyện cổ tích. Ngoại để giành
từng trái xoài, từng nải chuối, vài kí gạo, rồi Ngoại theo xe đò lên
Saigon tiếp tế cho gia đình tôi. Cái thời mà Việt cộng, đỉnh cao trí
tuệ của nhân loại, ngăn sông cấm chợ, đời sống ở các thành phố như
Saigon, vô vàn khó khăn. Quanh năm chỉ có bo bo, xếp hàng tranh nhau
vài con cá ương, gạo thì mục và trước khi bán họ còn trộn thêm đá
dăm. Cả một miền Nam trù phú đã tiêu điều bởi một lũ ngu đần nhưng
cao ngạo sau khi chiếm được miền Nam chỉ bởi sự mặc cả, mua bán giữa
các đại cường.
Ngoại tôi cả một đời ít khi rời khỏi mảnh đất quê. Lần nào lên
Saigon thăm cháu, Ngoại chỉ ở chừng 1 hay 2 bữa là Ngoại đòi về.
Ngoại nói "Ngoại đi vậy không ai trông nhà. Gà, vịt không ai lo." Và
lần nào trước khi về, Ngoại cũng hôn từng đứa cháu một. Mấy chị em
tôi cứ chọc Ngoại "Ngoại "Tây" quá há". Khái niệm quê hương với tôi
rất gần gũi, mộc mạc. Quê hương là bóng Ngoại còng, là nụ cười móm
mém của Ngoại tôi. Giờ Ngoại mất rồi, tôi chẳng còn mấy hứng thú mỗi
khi có ai rủ tôi về thăm Việt Nam.
Xem xong cuốn băng video, tôi vừa vui vừa buồn. Vui vì mừng cho bà
chị họ nên duyên vợ chồng và hy vọng chị sẽ có một cuộc sống tốt đẹp
hơn cho bản thân và cho con cái chị sau này nơi xứ xa. Vui vì được
nhìn lại bà con, chòm xóm, quê hương dù chỉ qua băng đĩa. Vui vì
thấy những người thân yêu vẫn bình an, mạnh giỏi. Buồn vì thấy sao
quê mình vẫn còn nghèo quá. Nhìn những đứa bé mình trần trùng trục,
đen đủi, khẳng khiu đứng hai bên đường làng nhìn theo đám rước dâu,
tôi muốn ứa nước mắt. Các em chắc chẳng thể hàng ngày đến trường, mà
phải lam lũ đi coi trâu thuê cho người hoặc theo đám mót lúa vào
những ngày gặt. Các em vẫn hồn nhiên vui cười mà không hề biết tương
lai sẽ ra sao. Cuộc đời các em rồi sẽ lại như cha mẹ các em hiện
tại, ăn bữa sáng là phải chạy lo cho bữa chiều, quần quật quanh năm
mà cuộc sống ngày càng nghèo, càng khó hơn. Có những đứa bé nét mặt
rất ngây thơ, tay chân vẫn còn lấm lem bùn đất đứng ngây người ngắm
nghiá những chiếc xe rước dâu bóng lộn mà không hề dám lấy tay sờ
vào vì người tài xế cứ chăm chăm trông chừng chúng, như thể những
con bệnh truyền nhiễm cần tránh xa.
Những người quay phim chuyên nghiệp thì cứ xua đuổi chúng vì lo sợ
hình ảnh nghèo nàn, ốm yếu của chúng sẽ lọt vào ống kính. Những cụ
già lưng đã còng, miệng nhai trầu, tay chống gậy nhìn theo mà cứ
xuýt xoa khen sự giàu sang của chú rể. Các cụ có được hưởng nhàn khi
cao tuổi, hay ngày ngày vẫn phải vất vả mót từng cọng dừa khô, nhặt
từng cọng củi sót lại trong vườn người khác, hoặc lặn lội mò kiếm
từng con tép hầu có thể đấp đổi qua ngày.
Đám cưới dưới quê thật là vui. Cô dâu ở cồn bên kia giàm Kỳ Hôn nên
có cảnh rước dâu rất đổi nên thơ, cứ như cảnh ngày xưa, ngựa anh đi
trước, võng nàng theo sau. Nhưng thay vì dùng ngựa thì người ta dùng
đò. Mấy chục chiếc đò được kết hoa trông rất đẹp mắt nằm san sát
nhau, nổi bật bên bờ sông. Giàm này có tên Kỳ Hôn. Theo tục truyền,
ngày xưa vua Gia Long đang đi thuyền, nhìn thấy nước một bên chảy
xuôi, một chiều chảy ngược, nhà vua buột miệng nói Cái giàm này kỳ
hôn?. Người xưa lấy chuyện này mà đặt tên cho cái giàm.
Máy chụp hình cứ bấm nhấp nhoáng. Chú rể cho mướn đến hai nhóm quay
phim như thể sợ có gì trục trặc. Đó là chưa kể ba bốn cái máy do
thân nhân, gia đình chú rể đua nhau tự quay lấy. Đường làng dẫn ra
bờ sông dường như quá chật, quá hẹp cho hơn một chục chiếc xe tháp
tùng chú rể đi đón dâu. Mấy anh tài xế chắc được bo hậu hĩ lắm hay
sao mà trông có vẻ vênh váo khác thường với những người dân quê đứng
hai bên đường làng trông theo.
Đám cưới Việt kiều có khác, cô dâu thay một lúc bốn, năm cái áo dài,
chú rể cũng xúng xính khăn đóng, áo dài lạy bàn thờ làm lễ gia tiên.
Đúng như ông bà mình nói, có tiền sinh lễ nghĩa. Thay vì đơn giản
các thủ tục cưới hỏi, người ta lại bày vẽ nọ kia làm cho đám cưới
thêm phần long trọng và cầu kỳ. Chú rể không nhận tiền mừng mà còn
làm tiệc đãi cả làng, không kể thân sơ, không kể giàu nghèo. Đám
cưới đãi luôn ba ngày, cứ như một đám cúng đình. Ba con bò thiệt to
được vật ra làm tiệc. Có những người theo tôi biết chẳng có họ hàng
gì với gia đình tôi, thậm chí chẳng có quan hệ hay quen biết gì cũng
có mặt trong đám cưới. Họ xông vào phụ cái này, giúp cái kia để mong
được mời vào bàn. Các công việc như chăng mấy tấm bạt, sắp xếp bàn
ghế, lau rửa chén bát hoặc kết lá dừa làm cổng vu qui cũng không cần
thuê người làm. Họ làm một cách tự nguyện, vui vẻ, nói chuyện, bàn
tán râm ran như thể đám cưới một người thân của họ. Dì tôi bữa nào
cũng dành ra đến ba, bốn bàn riêng cho họ. Vui nhất là đám con nít,
chúng cứ bu theo đám thợ nấu ăn ở phía nhà sau. Lâu lâu được cho cái
này, cái kia là chúng nhảy lên, chạy khoe với chúng bạn. Chắc là lâu
lắm rồi chúng mới được ăn ngon và nhiều như vậy. Nhìn chúng ăn mà
tôi thấy tội nghiệp và thương vô cùng. Chúng cũng trạc tuổi những
đứa cháu của tôi nhưng chúng hoàn toàn không có tuổi thơ hoặc một
tuổi thơ quá lam lũ, cực nhọc. Nhìn những cánh tay đen đủi quệt vội
nước mũi vì cái nóng hay cái cay của đồ ăn rồi tiếp tục ăn say sưa,
ăn như thể sợ mất phần hoặc sợ bị đòi lại, tôi vừa buồn cười vừa
muốn khóc.
Cuốn phim kết thúc đã lâu mà tôi cứ ngồi lặng yên, miên man trong
suy nghĩ về quê hương, về đất nước tôi. Tương lai quê hương tôi sao
vẫn mù mịt, tối tăm như tương lai của những đứa bé này.
Hơn 30 năm trước, chúng ta mất đi một nửa nước trù phú, giàu có. Một
nửa nước mà mọi giá trị nhân bản còn nguyên vẹn, con người còn đối
xử thật con người với nhau. Một nửa nước mà các căn bản dân chủ, dân
quyền, tuy chưa trọn vẹn do hoàn cảnh chiến tranh, đã đâm chồi, nẩy
lộc. Hơn 30 năm sau, chúng ta mất hoàn toàn một nước, mọi giá trị
đạo đức xã hội hầu như bị đạp đổ. Đồng tiền đã và đang thay thế tình
người trong quan hệ giữa người và người. Cũng vì tiền, bọn cầm quyền
sẵn sàng bán mọi thứ. Chúng bán đất, bán biển cho bọn Tàu phù để mua
ngày, mua tháng tiếp tục làm tay sai. Chúng nhận tiền của tư bản
ngoại quốc để biến cả nước thành một bãi rác khổng lồ. Chúng bán
thanh niên, thanh nữ đi làm lao nô khắp nơi. Con người Việt Nam,
quốc thể Việt Nam bị rẻ rúng, bị chà đạp. Thật tội nghiệp cho mẹ
Việt Nam đã sinh ra, đã cưu mang một bọn dốt nát, độc ác nhưng vỗ
ngực tự xưng đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Nước Nhật hứng chịu 2
trái bom nguyên tử, thất bại nhục nhã trong thế chiến thứ 2, 1945.
Vậy mà chỉ đến năm 1970, Nhật đã làm thế giới ngưỡng phục khi tổ
chức hội chợ thế giới ở Đông Kinh. Chỉ vọn vẻn 25 năm. Ngày nay,
Nhật là một đại cường kinh tế, cả thế giới bị chi phối bởi sản phẩm
của Nhật. Cả thế giới ngưỡng mộ tư cách và tinh thần Nhật. Ngày
trước, khi đọc cuốn "Nhật Bản ngày nay" trong tủ sách của Ba tôi,
tôi thầm mơ ước "Việt Nam ngày sau" sẽ chẳng thể thua kém. Giấc mơ
Việt của tôi bao giờ thành sự thật?
Tôi yêu quê tôi qua những hình ảnh giản đơn của những con người rất
đỗi bình dị, khó nghèo. Tôi yêu quê tôi với bao nhọc nhằn của đời
sống thường nhật. Và tôi yêu quê tôi với ước mơ một ngày quê hương
sẽ thanh bình, mọi người dân được chăm lo, mọi đứa trẻ được đến
trường với tuổi thơ đầy ắp tiếng cười, hạnh phúc.
Nguyễn Khánh Vũ
Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Khối diễn hành
Bãi tập
Lễ mãn khóa
Đó đây trên quê
hương
Here and
There In The Homeland
Người còn
nhớ hay người đã quên
Những ngày tù chung
với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và
Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nhìn Của Người Ngoại
Quốc
Đêm liêu trai
BÌNH-TUY,
những ngày cuối cùng...
Tình Anh
Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của
HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận
Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày
ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và hòa bình
Tây
Ninh, chút còn lại trong lòng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc
sống quả phụ
Thượng Tọa Thích
Quang Long
4 ngôi
mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi dòng về “Cỏ Thu
Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi
anh Trìu mến
Thiên bi hùng
ca QLVNCH
Để nhớ lại
những ngày Mùa Hè Bão Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 -
LĐ81 BCD
Trận đánh
cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù
cộng sản...
Sông Mao, phi vụ
ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của
tôi...
Khóc một dòng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng
hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện tình của một
Phi Công
Hai vì sao lạc
Tôi thương nhớ vợ
tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Hồi
tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Chinh nhân và
người tình
Tôi vào học viện
Cảnh Sát Quốc Gia
Dọc đường gió bụi
Cảm nghĩ của
một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái Bình Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính
VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Ðội
Thiên Nga
Viết về ngày QL
19/6/2011
Người không nhận
tội
Chào cô ... em gái
Biệt Cách Dù
Chuyện tình
chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan
tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ
hỏa lực 6 Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi
toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Người không nhận
tội
Tháng 4 xót xa
Tìm
lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi
hờn di tản
Charlie, ngọn
đồi quyết tử
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Gãy súng
Chuyện người
Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Của Chính Mình
Đại Bàng Gảy Cánh
Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy còn
đâu?
Vinh danh
Tướng Đỗ Cao Trí
Trung
Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết
tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi
mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân
trường
Anh trai Biên
Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt
Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời
lính...
Câu
chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Dòng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những
mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua những tình khúc bất tử
của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người
Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi -
Chúng con vẫn còn đây
Khi người
ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hãy thắp cho anh một ngọn
đèn
Chiếc áo phong sương tình
anh nặng
Người lính VNCH
trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ
trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những giòng
sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư tình của
người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong
đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Tình Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh
"homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nhìn được
xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn
nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận
Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư tình
May mà có em
Thằng bé đánh giày
người Nghĩa Lộ
May mà có em đời còn dễ
thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba dòng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy
Trần Văn Quí
Những xác chết trên mãnh đất
chữ "S"
Thân phận người
lính gãy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia
Trung ...
Những mảnh đời dang dở
- phần 2,
phần 3,
phần 4,
phần 5,
phần 6,
phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng
không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời
chinh chiến
Vược ngục
Chuyện tình khoai lang
Tâm tình
người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực
19-6-73
Vinh danh người lính
VNCH
Bà xã đai-ét
Chuyện kể:
Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi tìm Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một
lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất tình
Dấu "Hỏi Ngã"
trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi
Tây
Ý yêu đương
Đêm qua sân trước nở
cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm
thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm
thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh
phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
Tình... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ tình
Mùa Thu qua thi ca
Phụ nữ Việt Nam qua
Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng
nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi dòng sông
Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi
dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi tìm tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những
giao thoại văn chương
Xin hãy giúp tôi
Con còn nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ tình
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương
Đường đi không đến
Xương trắng
Trường Sơn
Về lại cố hương
Tự do ơi, tự do!
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số
phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà nòi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô
chở mùa xuân
Em đi để lại con
đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù
Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con
đường không lối thoát
Những
bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái tình
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ còn một ngày
để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng
Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một mình
Hãy bế em ra khỏi cuộc
đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan
Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh
Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Hòa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc tình
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nhìn những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Vì hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Nghìn trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời còn vui vì có
chút tòm tem
Đôi mắt Phượng
Ngưòi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
Tình già
Buổi chiều ở Thị
trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân tình
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông
bạn già năm xưa -
English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài vòng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
Tình người
Hồi ký của một người Hà
Nội
Tình nghĩa, nghĩa tình
Đôi đũa
Giòng đời... và hồi âm
giòng đời...
Không cho phép mình
quên
Thảm sát trên đảo
Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không
đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
Tình ngây dại
Để nhớ để quên