Trích trong tuyển tập truyện ngắn Thu Xưa
Xuất bản năm 2011
Liên lạc tác giả:
Munau11@hotmail.com
Thụy quờ quạng cậy gậy dẫn đường, dò dẫm bước lên thềm nhà. Lần theo
hàng cột xiêu vẹo quen thuộc, anh bước đến bên bộ ván mốc cời.Tháo
cái bao vải cũ kỹ đựng cây đàn guitar, là chiếc cần câu cơm của anh,
đặt đúng vào vị trí, ngay khoảng trống nhỏ, giữa cái tủ thờ và chân
ngựa.
Con mực quấn quýt bên chân anh mừng rỡ, kèm theo những tiếng hực hực khó chịu.
Anh ngồi xuống mép bộ ván, vảnh tai nghe ngóng, hình như có người lạ
trong nhà. Mùi nước hoa Chanel 5 phảng phất, cái mùi đã quá quen
thuộc với anh, cái mùi ngay xưa Yên vẫn thường dùng, nên dù xa cách
bao nhiêu năm, anh chẳng bao giờ có thể nhầm lẫn.
-Má! Má à!
-Gì đó con?
Tiếng bà Bảy sát một bên, làm Thụy ngạc nhiên nghĩ thầm:
"... Má ngồi đó, mà sao thấy mình về, không hề lên tiếng kìa…”
-Ủa má …hình như có ai đó đang ở trong nhà mình hả…
-Ờ…
-Ai vậy?
-Ờ…
-Ai đang ở trong nhà tui dậy ?
-Dạ …em…
-Em là ai?
-Dạ …em là Yên…
-Yên nào vậy cà?
-Anh Thụy…Yên là… là vị hôn thê của anh…
-Tui hổng quen biết cô, mà cũng chẳng có hôn thê, hôn phu gì hết,
làm ơn đi ra khỏi nhà tui ngay…
-Anh Thụy…
-Hổng anh em gì ráo trọi, cô hổng đi tui kêu Công An bây giờ đó nhe.
-Anh Thụy, xin anh …xin anh …tha lỗi cho em …
-Cô giả ngộ hả, tui là một thằng phế binh chế độ cũ đui mù tàn tật,
sống bằng nghề hát dạo nuôi thân, làm sao có được cái quyền tha thứ
cho cô chứ …
-Anh Thụy…xin anh bớt giận, vì không phải hoàn toàn là lỗi nơi em …
-Tui có nói là lỗi tại cô đâu, tại trời tại đất, tại trái đạn B40
bắn dở quá. Phải chi nó bắn gỉỏi một chút nữa, thì tui chết queo
rồi, có đâu phải mang tấm thân mù lỏa như vầy. Thôi đủ rồi, tui hổng
muốn nghe cô dài dòng tâm sự nữa… Mà má nè, má cũng kỳ ghê đi, sao
để người ta vô nhà chi vậy…
Bà Bảy vội lên tiếng bào chữa:
-Má có biết gì đâu nà, cổ tới đây khóc lóc thảm thiết xin được gặp
con, má cầm lòng hổng đậu…Thôi! Con bình tĩnh chút đi Thụy, nghe cổ
nói vài lời đã…
-Con nghe đầy lỗ tai rồi, còn gì để nghe nữa hả má? Người ta có cuộc
sống giàu sang nhung lụa, đâu có chuyện gì liên quan tới cái chòi
tranh dột nát của má con mình, mà nói.
Tiếng Yên sụt sùi:
-Anh đừng nói thế, hàng ngày em vẫn dõi theo từng bước anh đi trong
mấy tháng qua đó, Thụy ơi!
-Tui có làm gì phản động đâu mà cô phải theo dõi?
-Đừng cay đắng với em nữa mà, Thụy…
-Cay đắng bằng lời nói, không tổn thương lắm đâu, những đớn đau do
những cay đắng cuộc đời đem đến cho tui còn nghiệt ngã gấp trăm ngàn
lần đó cô à!
-Anh hãy cho em nói vài lời, rồi anh muốn đay nghiến em ra sao cũng
được…
-Đay nghiến cô thì có biến những chén bo bo thành chén cơm mà nuôi
sống mẹ con tui đâu, tui hổng dư hơi đi làm chuyện đó.
Bà Bảy cũng chêm vào :
-Thì con cứ nghe cổ nói cái đã…Cháu …Cháu Yên…ngồi xuống đây đi…rồi
nói gi thì nói.
-Dạ cám ơn bác…
Cô gái ngồi ghé xuống bộ ván, vì trong nhà có còn chỗ nào khác để
ngồi đâu.
Thụy lặng thinh, thò tay móc gói thuốc bèo nhèo từ trong túi áo vá
chằng vá đụp ra, lôi một điếu, châm lửa. Điếu thuốc cũng quăn queo,
nhăn nhúm như cuộc đời gian nan khổ ải của anh.
Một nửa khuôn mặt đã được che khuất bằng cái kính đen to bản, nhưng
nửa còn lại cũng đã tố cáo sự khắc khổ trong cuộc sống của anh.
Hơi thuốc dường như làm Thụy trầm tĩnh lại. Một niềm ân hận len nhẹ
vào tâm hồn anh, vì đã có thái độ hơi quá đáng đối với cô gái.
Tiếng Yên nhè nhẹ vang lên trong buổi chiều tà, giữa cái chòi tranh
trống huơ, trống hoác. Thính giả là một bà già đầu tóc bạc phơ, móm
mém nhai trầu, một anh thương binh mù hai mắt, đang mơ màng nhả
khói, và một con chó cái có bộ lông đen tuyền, nằm ghếch mõm trên
hai chân trước, lim dim đôi mắt…
-…Ngày đó, em theo gia đình di tản từ Pleiku vào đến Vũng Tàu, thì
nghe tin đơn vị anh đã mất liên lạc. Cha mẹ bắt em xuống tàu theo
những đoàn người đang nườm nượp ra đi.
Em đã cãi lời, nhất quyết ở lại để đi tìm anh.
Một thân một mình, em lặn lội vào đến Long Thành, tìm ra đơn vị của
anh, nhưng cũng nhận được một tin đau lòng : Anh đã bị báo cáo mất
tích.
Giọng cô nức nở, nghẹn ngào:
-Em phải làm gì hở Thụy? Giữa cảnh hỗn mang ấy, em như chiếc lá lìa
cành, mặc cho giòng đời đẩy đưa. Em trôi nổi với phong ba bão táp,
chống chọi với sóng gió ba đào, nhưng vẫn đứng vững được, là nhờ vào
niềm tin là có ngày sẽ gặp lại anh. Hơn năm năm trôi qua, anh vẫn
biệt vô âm tín. Rồi em nhận được giấy bảo lãnh của cha mẹ sang định
cư ở Hoa Kỳ .
Em đã thật sự kiệt lực với những chờ mong, tìm kiếm. Nhưng ước vọng
một ngày trùng phùng vẫn nung nấu trong tâm hồn em.
Cô ngừng lại, dường như để lấy hơi, hay để dằn bớt nỗi xúc động đang
dâng tràn trong tâm hồn.
-Anh biết không! Hơn năm năm trên xứ lạ quê người, với bao săn đón
chào mời, em những tưởng sẽ nguôi ngoai phần nào nỗi nhớ thương vời
vợi. Nhưng không, hình bóng của anh luôn ngự trị trong tim em. Cũng
may, giai đoạn này, có nhiều đoàn thể, hội đoàn bên ấy đóng góp tiền
bạc gởi về cho các chiến hữu ở quê nhà. Nhờ thế, em đã tìm được tung
tích của anh qua một hội cứu trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa.
Anh có biết là lúc ấy lòng em xúc động đến cỡ nào không? Em như đang
đi trên mây vậy đó. Thụy của em đây rồi. người em yêu vẫn còn đây.
Và thế là em lập tức lấy vé trở lại Việt Nam để gặp anh cho bằng
được, dù anh đã là một người tật nguyền.
Thụy ngồi sững sờ như một pho tượng, trước bao diễn tiến đầy sóng
gió trong cuộc đời của Yên. Những giọt nước mắt hiếm hoi, không biết
từ lúc nào, đã lăn dài trên gò má sạm nắng của anh. Thế mà anh ngỡ
rằng cô đã bội thề, ôm cầm sang thuyền khác, khi anh đang vất vưởng
trong nỗi đau cùng cực cả về thể xác, lẫn tâm hồn trên quê hương
điêu linh thống khổ.
Giọng cô gái vẫn trầm trầm như một lời than thở:
-Em đã tìm hiểu và biết được nơi anh ở, đã lặn lội theo từng bước
chân anh đi hát rong trên những chuyến xe đò chạy về miền Tây.
Ngày đầu tiên gặp lại anh ngoài bến xe, em đã khóc hết nước mắt.
Anh Thụy ơi! Những lúc nhìn anh quờ quạng cây gậy, mò mẫm lên xe,
lòng em đau như dao cắt. Biết bao đêm, em đã tự than thầm:
…”Ôi ! Còn đâu người chiến binh kiêu dũng, tài hoa ngày nào”
Và em ước ao phải chi mình được hóa thân thành cậy gậy ấy, để chia
sẻ với anh những chông gai trên vạn nẻo đường.
Thụy ơi! Anh biết không, những sớm mai se lạnh, những chiều đông
buồn u uẩn. Em lẻo đẻo theo anh như một cái bóng, đi theo để được
nghe lại những ca khúc mà thuở nào anh đã từng đàn và hát cho em
nghe.
Ngày xưa, anh đàn cho em nghe, bên giàn hoa thiên lý tỏa hương thơm
ngào ngạt, dưới ánh trăng êm đềm, lơi lả.
Còn ngày nay cũng là anh, nhưng anh đàn và gân cổ lên hát, giữa
những tiếng chửi thề lao xao, cùng bao âm thanh hỗn độn khác, và mùi
xú uế xông lên nồng nặc. Ôi! Xót xa làm sao.
Thế mà có lần, anh đã xua đuổi em ngay trên chuyến xe đò giữa bao
nhiêu con mắt ngạc nhiên của hành khách, làm em mắc cỡ muốn chết…
-Yên ! Tui… Anh…anh… xin lỗi…
-Em chẳng buồn, cũng chẳng giận hờn gì anh đâu. Em hiểu được tâm
trạng của anh.
Từ một thanh niên cường tráng, tự tin và yêu đời. Anh trở thành phế
nhân phải sống nhờ vào lời ca tiếng hát, mua vui cho đời.
Hỏi sao anh không bất đắc chí.
Em và bao nhiêu người khác có được cuộc sống bình yên cho đến ngày
hôm nay, chính là nhờ vào sự hy sinh của các anh.
Người dân miền Nam và cá nhân em còn nợ anh một món nợ không bao giờ
có thể trả hết.
Thì những chuyện nhỏ nhặt như thế có xá chi!
-Em đừng nghĩ cao xa quá, đó là bổn phận của người trai trong thời
chiến mà!
-Có một điều em muốn nói ở đây, là anh đã luôn xứng đáng với lòng
tôn kính của em, dù thương tật như thế, anh vẫn sống tự lập bằng khả
năng thiên phú, chứ không chịu làm gánh nặng cho xã hội.
Anh ơi! Trong tim em, hình ảnh người chiến binh kiêu hùng ngày nào
vẫn bất diệt, và tình yêu của em cũng chẳng hề phai lạt với thời
gian.
Mình đã đính ước với nhau, dù cuộc sống có thay đổi thế nào, thì em
vẫn luôn là của anh, và ngược lại. Phải thế không Thụy?
Tự lúc nào, bàn tay khô nhám của Thụy đã nằm gọn trong những tháp
bút mềm mại của Yên .
Hai bàn tay giao nhau, hai trái tim cùng chung một nhịp đập
Anh lặng người đi, trước sự hy sinh vô bờ bến của Yên và tình yêu
cao cả, đẹp đẽ của cô. Anh lắp bắp :
-…Phải, phải lắm Yên ơi !
-Hãy nói cho em biết, chuyện gì đã xảy ra với anh?
-…Yên…em… ơi !Trên đường di tản, đơn vị anh đã bao lần chạm trán
địch quân, bị pháo kích, bị tập kích, phục kích, nhưng anh vẫn may
mắn lành lặn. Chính vì còn lành lặn mà anh đau lòng biết bao, khi
nhìn thấy những cảnh chết chóc đau thương của người dân trên bước
đường đi tìm sự sống.
-Qua tin tức báo chí, cũng như các phương tiện truyền thông khác,
người ta nói đó là một cuộc di tản thất sách, là đi vào tử lộ mà…
-…Em nói không sai, đó là những đoạn đường hết sức kinh hoàng, xác
người nằm la liệt khắp nơi, phụ nữ trẻ con ông già bà lão. Những
viên đạn vô tình không chừa một ai… Có những khi, đoàn di tản lọt
vào ổ phục kích, từ trên các ngọn đồi, bọn chúng xả súng xuống như
mưa, thây người ngã rạp tựa thân chuối bị đốn ngang, thật vô cùng
khủng khiếp…Anh cảm thấy mình quá bất lực, đã không bảo vệ được cho
đồng bào, những người chân yếu tay mềm…
-Thế rồi …tại sao anh ra nông nỗi?
-Trải qua bao gian nan, nguy hiểm, anh về được đến Đèo Sông Pha, đơn
vị lại lọt vào ổ phục kích của địch quân, lúc bấy giờ tình trạng hết
sức bi đát, hỗn quân hỗn quan. Chỉ còn vài người lính trung thành đi
với anh. Trong lúc chạm súng, anh bị nguyên một trái B40 nổ trước
mặt. Anh bất tĩnh đi rất lâu, may nhờ Hạ Sĩ Thái đã không nề hà nguy
hiểm cõng anh chạy băng rừng vượt suối, đến một xóm đạo kia. Em còn
nhớ Thái không?
-Anh Thái người Bắc mang máy cho anh chứ gì?
-Đúng thế! Thái Bắc Kỳ đó. Và một gia đình giáo dân đã cho anh tá
túc để chữa trị. Cái ơn cứu tử của Thái của những người giáo dân ấy
anh không bao giờ có thể trả được. Giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, vẫn
có những tấm lòng thật đáng trân quý.
-Sau đó có bao giờ anh liên lạc lại với những người ấy không? Và vết
thương của anh như thế nào?
-Mấy năm sau, khi vết thương đã lành lặn hẳn, và anh cũng đã quen
thuộc dần với cách đi đứng của người mù, anh xin phép giã từ để
tránh gánh nặng cho họ, vì lúc đó em biết mà, vấn đề lương thực rất
khó khăn, nơi đâu cũng chỉ cháo rau qua ngày, đã thế lại còn cưu
mang thêm một kẻ vô dụng như anh quả là chật vật cho họ. Và anh cũng
muốn về quê, tìm lại mẹ già. Từ đó đến nay, anh vẫn thư từ thăm hỏi
mọi người trong gia đình ấy. Thái thì thường đến đây thăm anh. Thực
ra, anh chỉ bị sức nóng của trái đạn làm hỏng mắt, chứ lại không bị
thương gì cả. Nhưng vì không thuốc men, mà chỉ chữa trị bằng lá cây
thuốc Nam, nên mới kéo dài thời gian như vậy.
-Thật là tội nghiệp cho anh, nhưng nếu chỉ bị thương như thế, em
nghĩ là khoa học bây giờ có thể chữa trị được. Mà sao mấy năm sau
cũng chưa thấy anh trở về? Em biết là quê anh ở ngay ngoại ô Saigon,
nên đã tìm đến đây nhiều lần nhưng vẫn vô vọng.
-Em nghĩ xem, với đôi mắt mù lòa thế này, từ miền Trung lặn lội về
miền Nam khác nào người ta lên cung trăng…Một vài anh em trong đơn
vị cũ, gặp anh trên đường đi hát dạo, đã nói có thấy em đến tìm anh,
nhưng rồi sau đó, thì em đi vượt biên hay bảo lãnh gì đó…Nên anh
nghĩ là em đã quên anh rồi. Và anh thật sự oán hận em…
-Bây giờ thì anh đã cảm thông và thứ tha cho em rồi chứ?
-Anh phải xin lỗi em mới đúng, chứ em nào có lỗi gì đâu …
-Có! Em có lỗi là làm cho anh hiểu lầm rằng em đã quên đi lời ước
hẹn cũ, và cái lỗi nặng nhất là mãi đến hôm nay mới tìm được cơ hội
để chăm sóc anh. Chắc anh không nỡ từ chối chứ Thụy?
-Yên à! Cho anh xin lỗi về chuyện xảy ra bữa em đến tìm anh trên xe
đò, lúc đó anh vừa giận dỗi, lại vừa mặc cảm. Hơn nữa, anh nghĩ là
phải để cho em sống với cuộc sống hạnh phúc mà em xứng đáng được
hưởng.
Em biết không, khi ấy lòng anh vô cùng mẫu thuẫn, vừa sung sướng vừa
đau khổ, sung sướng vì biết rằng tình yêu ngày cũ vẫn còn trọn vẹn
trong em,
Nhưng đau khổ, vì anh bây giờ là một kẻ tật nguyền mù lòa, không
xứng đáng với tình yêu em dành cho. Yêu anh em sẽ vương mang bao khổ
lụy…
-Em hiểu và thông cảm với những suy nghĩ của anh …
-Bởi vậy nên anh đã giả vờ không quen biết em, nặng lời với em, và
xua đuổi em …Để em quên anh đi…Thế mà em vẫn lần mò tìm đến đây…
Thụy hướng về phía bà Bảy :
-Má! Má à đây là Yên, người mà con đã giấu má để làm lễ đính ước
cách nay gần hai mươi năm, khi con đang đóng quân ngoài Pleiku. Giờ
tính sao đây má?
Bà Bảy nói với giọng tràn đầy vẻ hân hoan:
-Ai biết nè! Mấy con tính sao cũng được hết á!
Giọng Yên hớn hở, reo vui:
-Má ơi! Má cho phép con đổi cách xưng hô nhe má!
-Khỏi phép tắc chi hết, má bằng lòng cái rụp.
-Con xin cám ơn má.
-Có được đứa con dâu xinh đẹp và lễ nghĩa như thế này, gia đình má
có phước lắm rồi.
-Má đừng nói vậy, con mắc cỡ chết.
-Thôi! Qua cơn mưa trời lại sáng. Ủa! Mà tối lắm rồi, hai đứa đói
bụng chưa, để má đi bưng cơm ra ăn há.
-Cho con đi phụ với má nhe.
-Ừa, nhưng có gì nhiều đâu mà phụ.
Thụy chen vào:
-Má châm đèn lên chưa vậy, hông thôi Yên đi vấp té đó…
-Thân con mù lòa, tối tăm không lo, đi lo cho người sáng mắt.
-Má đừng bận tâm nữa, từ nay con xin được làm cây gậy dẫn đường cho
anh Thụy đến trọn cuộc đời…
Thụy tưởng chừng đôi mắt anh đã tìm lại được ánh sáng, từ câu nói trĩu nặng ân tình của Yên. Thì ra, tình yêu không chỉ khiến cho trái tim ta rung động mà còn ần chứa nét đẹp tuyệt vời như những vẩn thơ làm xao xuyến lòng người.
THỦY GIA TRANG
Wichita, KS Nửa Đêm, Tháng Tám 4-2010
Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Khối diễn hành
Bãi tập
Lễ mãn khóa
Đó đây trên quê
hương
Here and
There In The Homeland
Người còn
nhớ hay người đã quên
Những ngày tù chung
với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và
Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nhìn Của Người Ngoại
Quốc
Đêm liêu trai
BÌNH-TUY,
những ngày cuối cùng...
Tình Anh
Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của
HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận
Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày
ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và hòa bình
Tây
Ninh, chút còn lại trong lòng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc
sống quả phụ
Thượng Tọa Thích
Quang Long
4 ngôi
mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi dòng về “Cỏ Thu
Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi
anh Trìu mến
Thiên bi hùng
ca QLVNCH
Để nhớ lại
những ngày Mùa Hè Bão Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 -
LĐ81 BCD
Trận đánh
cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù
cộng sản...
Sông Mao, phi vụ
ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của
tôi...
Khóc một dòng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng
hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện tình của một
Phi Công
Hai vì sao lạc
Tôi thương nhớ vợ
tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Hồi
tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Chinh nhân và
người tình
Tôi vào học viện
Cảnh Sát Quốc Gia
Dọc đường gió bụi
Cảm nghĩ của
một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái Bình Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính
VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Ðội
Thiên Nga
Viết về ngày QL
19/6/2011
Người không nhận
tội
Chào cô ... em gái
Biệt Cách Dù
Chuyện tình
chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan
tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ
hỏa lực 6 Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi
toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Người không nhận
tội
Tháng 4 xót xa
Tìm
lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi
hờn di tản
Charlie, ngọn
đồi quyết tử
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Gãy súng
Chuyện người
Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Của Chính Mình
Đại Bàng Gảy Cánh
Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy còn
đâu?
Vinh danh
Tướng Đỗ Cao Trí
Trung
Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết
tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi
mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân
trường
Anh trai Biên
Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt
Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời
lính...
Câu
chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Dòng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những
mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua những tình khúc bất tử
của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người
Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi -
Chúng con vẫn còn đây
Khi người
ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hãy thắp cho anh một ngọn
đèn
Chiếc áo phong sương tình
anh nặng
Người lính VNCH
trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ
trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Một lần vĩnh biệt
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những giòng
sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư tình của
người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong
đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Tình Bất Khuất
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh
"homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nhìn được
xác chàng
Thủ Đức - Tuần huấn
nhục
Một lần đi
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận
Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư tình
May mà có em
Thằng bé đánh giày
người Nghĩa Lộ
May mà có em đời còn dễ
thương
Gói quà đầu năm
Chuyến đi cuối năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba dòng nước mắt
Tâm thư của Cố Thiếu Úy
Trần Văn Quí
Những xác chết trên mãnh đất
chữ "S"
Thân phận người
lính gãy súng
Trận Ô-Căm
Chuyện vượt ngục ở trại Gia
Trung ...
Những mảnh đời dang dở
- phần 2,
phần 3,
phần 4,
phần 5,
phần 6,
phần cuối
Nhớ về mái trường xưa
Những ngày tháng
không quên
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời
chinh chiến
Vược ngục
Chuyện tình khoai lang
Tâm tình
người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực
19-6-73
Vinh danh người lính
VNCH
Bà xã đai-ét
Chuyện kể:
Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi tìm Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một
lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất tình
Dấu "Hỏi Ngã"
trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi
Tây
Ý yêu đương
Đêm qua sân trước nở
cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm
thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm
thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh
phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
Tình... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ tình
Mùa Thu qua thi ca
Phụ nữ Việt Nam qua
Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng
nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi dòng sông
Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi
dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi tìm tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những
giao thoại văn chương
Xin hãy giúp tôi
Con còn nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ tình
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương
Đường đi không đến
Xương trắng
Trường Sơn
Về lại cố hương
Tự do ơi, tự do!
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số
phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà nòi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô
chở mùa xuân
Em đi để lại con
đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù
Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con
đường không lối thoát
Những
bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái tình
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ còn một ngày
để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng
Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một mình
Hãy bế em ra khỏi cuộc
đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan
Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh
Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Hòa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc tình
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nhìn những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Vì hai chữ Tự Do
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Nghìn trùng cách biệt
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời còn vui vì có
chút tòm tem
Đôi mắt Phượng
Ngưòi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
Tình già
Buổi chiều ở Thị
trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân tình
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông
bạn già năm xưa -
English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài vòng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
Tình người
Hồi ký của một người Hà
Nội
Tình nghĩa, nghĩa tình
Đôi đũa
Giòng đời... và hồi âm
giòng đời...
Không cho phép mình
quên
Thảm sát trên đảo
Trường Sa
Em tôi
Thầy Chín
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không
đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
Tình ngây dại
Để nhớ để quên